Chuyên dinh dưỡng vỗ béo vật nuôi, thượng hạng

Chuyên dinh dưỡng vỗ béo vật nuôi, thượng hạng Chuyên cung cấp các sản phẩm vỗ béo cho vật nuôi

Bạn đã chăm sóc nái hậu bị một cách thích hợp?Dinh dưỡng cho nái hậu bị đang phát triển có tác động rất lớn đến năng suấ...
01/09/2021

Bạn đã chăm sóc nái hậu bị một cách thích hợp?
Dinh dưỡng cho nái hậu bị đang phát triển có tác động rất lớn đến năng suất sinh sản sau này của chúng.Ngày nay, tỷ lệ thay thế hàng năm ở các trang trại thương mại là khoảng 45%, gần một nửa tổng đàn nái.
Dinh dưỡng cho nái hậu bị đang phát triển có tác động rất lớn đến năng suất sinh sản sau này của chúng. Ngày nay, tỷ lệ thay thế hàng năm ở các trang trại thương mại là khoảng 45%, gần một nửa tổng đàn nái! Do đó, từ khía cạnh tài chính, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự quan tâm phù hợp và sâu sắc hơn đối với sức khỏe, thời gian khai thác và năng suất sinh sản của mỗi cá thể nái có ý nghĩa rất lớn đối với mục tiêu gia tăng lợi nhuận chăn nuôi.

1. Giai đoạn phát triển của nái hậu bị

Giai đoạn phát triển của nái hậu bị bắt đầu từ khi ra đời đến lần phối đầu tiên. Một qui trình dinh dưỡng tối ưu cho nái hậu bị nên được triển khai từ khi chúng đạt 25 kg trọng lượng, nhằm giúp cho cơ quan sinh sản phát triển một cách tốt nhất. Trong điều kiện chăn nuôi heo mà không thể chăm sóc nái hậu bị ngay từ 25 kg thể trọng thì cần áp dụng chế độ khẩu phần khởi động đặc biệt sớm nhất có thể trong thời gian sau đó. Khẩu phần từ 25kg thể trọng hoặc khẩu phần khởi động đặc biệt cần được duy trì đến khi chúng đạt 40-50 kg thể trọng.

Khẩu phần cho nái hậu bị 45-50 kg thể trọng trở lên nên được cho ăn với mức 2.5-3.5 kg/ngày, phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng mong muốn, các điều kiện chuồng nuôi lợn, sức khỏe, di truyền học, và điều kiện quản lý. Ba tuần trước khi phối lần đầu, một khẩu phần năng lượng cao (khoảng 2500kcal/kg NE) nên được cung cấp để kích thích heo nái hậu bị có tỷ lệ rụng trứng cao.

Chăm sóc heo nái hậu bị

2. Hàm lượng dinh dưỡng

So với khẩu phần heo thịt giai đoạn heo lứa-vỗ béo, khẩu phần nuôi heo nái hậu bị nên có hàm lượng chất dinh dưỡng ít hơn, ít nhất là về mặt năng lượng và các axit amin nhằm đạt mức tăng trọng hàng ngày trung bình khoảng 550-650 gram từ khi sinh ra cho đến khi phối lần đầu. Điều này nhằm đảm bảo heo nái sẽ đủ trưởng thành trong độ tuổi mong muốn, có kích thước cơ thể lý tưởng với lượng mỡ dự trữ vừa đủ tại thời điểm thụ tinh đầu tiên. Bởi vì tuổi tác và tình trạng cơ thể khi nái hậu bị được phối lần đầu sẽ có một tác động đáng kể trên năng suất trọn đời, nên kiểm soát tốc độ tăng trưởng của nái hậu bị rõ ràng là một mục tiêu của một chương trình dinh dưỡng thành công.

Lưu ý một quy tắc bất di bất dịch rằng, việc điều chỉnh tốc độ tăng trưởng và tích mỡ phải được thực hiện thông qua việc điều chỉnh hàm lượng dinh dưỡng chứ không phải là điều chỉnh số lượng thức ăn cho nái ăn. Thông thường, việc giảm hàm lượng năng lượng và axit amin nên được thực hiện bằng cách thay thế những thực liệu giàu dinh dưỡng và năng lượng như bắp bằng những thực liệu giàu chất xơ như cám gạo, lúa mạch đen, lúa triticale, bã củ cải, bã mì để lượng ăn vào vẫn đảm bảo thỏa mãn cảm giác đầy của cơ quan tiêu hóa.

Các yêu cầu canxi và phospho (phốt-pho) của heo nái hậu bị thì cao hơn so với nhu cầu của heo thịt ở độ tuổi tương tự. Điều này là do nái hậu bị cần phát triển xương và tích lũy tối đa trữ lượng khoáng trong cơ thể để chuẩn bị cho quá trình mang thai và nuôi con sau đó. Hai khoáng chất này rất quan trọng không chỉ đối với sự phát triển xương, mà còn cho sự phát triển của thai nhi và tiết ra trong sữa cho con bú. Do đó, sự thiếu hụt canxi và phospho sớm trong quá trình sinh sản sẽ làm cho xương của nái bị suy yếu sớm, dẫn đến các bệnh như sốt sữa, què, gãy chân, loại thải nái sớm hoặc gây còi cọc trên heo con.

Tương tự như vậy, lượng vitamin cũng sẽ cao hơn so với nhu cầu cho heo thịt cho cả hai loại vitamin tan trong chất béo và các vitamin tan trong nước. Đặc biệt, cần có sự quan tâm đến hàm lượng vitamin A, vì vitamin A ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của một protein tên là ‘protein liên kết retinol’ được tiết ra trong tử cung. Vì thế, có thể nói rằng vitamin A có liên quan đến việc thành lập và duy trì thai kỳ một cách gián tiếp.

3. Nuôi dưỡng heo nái hậu bị hiện đại

Những dòng heo nái hiện đại có năng suất sinh sản rất cao. Nhưng đồng thời nó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc cẩn thận và một chương trình dinh dưỡng thích hợp trong suốt cuộc đời, bao gồm cả giai đoạn phát triển.

Chỉ số năng suất của heo nái cao sản và phương pháp khai thác hiệu quảVấn đề liên quan đến thất bại của đàn nái sinh sản...
31/08/2021

Chỉ số năng suất của heo nái cao sản và phương pháp khai thác hiệu quả
Vấn đề liên quan đến thất bại của đàn nái sinh sản thường rất phức tạp. Để giải quyết các vấn đề như thế, việc hiểu biết các yếu tố quan trọng để tối đa hiệu quả sinh học là điều cần thiết.
Những điểm chính để tối đa hóa khả năng sinh sản của nái bao gồm:

1. Sử dụng các nái giống phù hợp cho hệ thống của bạn
2. Đảm bảo các điều kiện để nái thể hiện hết các tính trạng tốt
3. Theo dõi tuổi của lợn nái và khả năng sinh sản theo thời gian
4. Thu thập các hồ sơ, số liệu ghi chú cần thiết và sử dụng chúng để tìm hiểu vấn đề đang xảy ra
5. Sử dụng thức ăn chất lượng tốt, cao năng lượng, protein và lysine đầy đủ cho nái nuôi con và tối đa hóa lượng thức ăn ăn vào
6. Cung cấp một môi trường chuồng nuôi ổn định, phù hợp và sạch sẽ
7. So sánh năng suất sinh sản, tỷ lệ cai sữa sống với thời gian cho con bú để quyết định tuổi cai sữa và trọng lượng cai sữa tối ưu trong điều kiện cụ thể của trại.
8. Duy trì tốt tình trạng cơ thể trong suốt thời kỳ mang thai
9. Bảo đảm nái được phối với tinh tốt (khai thác tinh tối đa 2-3 lần/tuần/đực giống)
10. Duy trì sức khỏe và khả năng miễn dịch với bệnh của nái
11. Đánh giá tuổi phối lứa đầu của nái hậu bị, là tiêu chí liên quan đến năng suất sinh sản của đàn
12. Đánh giá hiệu quả quản lý lợn nái từ khi cai sữa đến 21 ngày sau phối
13. Lựa chọn đúng người có năng lực để phụ trách việc phối giống; khả năng của những người này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản của nái

Hầu hết các công ty giống hiện nay phát triển các dòng heo giống chứ không phải là các giống thuần tiêu chuẩn như trước đây. Dòng nái giống nên có các đặc điểm tốt như dài đòn, sanh sản tốt (số lợn con sinh ra còn sống mỗi lứa và số lứa sinh ra mỗi năm cao) và khả năng làm mẹ (tổng số lợn con cai sữa/nái mỗi năm). Dòng đực giống nên chọn dựa vào các tiêu chí tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả sử dụng chuyển đổi thức ăn tốt và tỷ lệ thịt nạc cao. Do những khắt khe về điều kiện môi trường, vệ sinh, chuồng trại, nhiệt độ tối ưu, khả năng đề kháng bệnh thấp của các giống thuần chủng, nên đối với trại chăn nuôi thương mại, sử dụng các dòng lai F1 trở đi có hiệu quả hơn.

Bảng 1 liệt kê các tính năng cần thiết kết và quan trọng khi lựa chọn đàn giống của bạn. Phải nhớ rằng có thể có một sự khác biệt đáng kể trong khả năng sanh sản của các dòng mẹ khác nhau của các công ty giống khác nhau.



Độ tuổi của heo nái cũng đóng một phần quan trọng trong hiệu quả sinh sản. Bảng 2 cho bạn thấy rằng khả năng sinh sản tốt nhất là trong lứa 3, 4 và 5. Mặc dù ở lứa 8, tổng số lợn con sinh ra có thể lớn hơn nhưng thường có nhiều con còi cọc hơn. Ngoài ra còn có sự gia tăng trong số lượng chết non và giảm số con sinh ra còn sống. Hơn nữa, lợn nái lớn tuổi có xu hướng vụng về và lười biếng hơn, làm cho tỷ lệ tử vong tăng, thường là tăng 3% hoặc nhiều hơn so với con số này ở lứa 3-5. Lợn nái lứa 3 đến 5 nuôi ít nhất 24 lợn con mỗi năm nhưng từ lứa thứ 8 trở đi, con số này thường giảm xuống dưới 21. Mức độ hiệu quả sinh sản cũng nên được so sánh với những lợn cái hậu bị. Quyết định loại thải tùy thuộc vào năng suất của nái, nguồn cung cấp hậu bị và năng suất của lợn cái hậu bị cũng như hiệu quả của công tác phối giống. Cơ cấu đàn nái đẻ với các độ tuổi khác nhau để tối đa hóa sản xuất được trình bày trong Hình 1.





Việc duy trì số lượng nái hậu bị và số lợn nái đẻ là yếu tố quan trọng đầu tiên để duy trì chương trình phối giống hiệu quả. Thiếu hụt nái để thay đàn là sự thất bại phổ biến nhất trên hầu hết các trang trại nuôi lợn. Hơn nữa, thực tiễn cho thấy số nái thực đẻ luôn thấp hơn so với số nái được phối (còn gọi là tỉ lệ đẻ). Vì vậy, để tận dụng tối đa cơ sở vật chất và nhân lực, người quản lý cần tính toán số lượng nái được phối cao hơn để đảm bảo số nái thực đẻ đạt được tối đa năng suất của trại. Thông thường tỉ lệ đẻ 89-90% là lý tưởng nên để có được 100 nái đẻ, số nái cần phối là khoảng 110 con. Tỉ lệ đẻ giảm thấp gắn liền với những vấn đề như giao phối lặp lại, sảy thai, lợn nái không phối nhưng không mang thai, nái chết hoặc bệnh. Hình 2 trình bày quy trình kích thích động dục trên nái, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của:

- Vai trò của đực khí tình
- Vai trò của việc cho nái làm quen với môi trường sống của trại nái phối giống và mang thai
- Vai trò của dinh dưỡng tốt
- Vai trò của ánh sáng
- Vai trò của điều kiện chăm sóc: mật độ, thiết kế chuồng trại nuôi heo...

Số lần cho ăn và năng suất của nái nuôi con1. Khái quát về chương trình nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trong vòng...
30/08/2021

Số lần cho ăn và năng suất của nái nuôi con
1. Khái quát về chương trình nghiên cứu:

Thí nghiệm được tiến hành trong vòng 2 tháng. Các nhóm thí nghiệm được chia thành nhóm cho ăn 1 ngày/1 lần vào lúc 6 giờ sáng, nhóm cho ăn ngày 2 lần lúc 6 giờ sáng và 6 giờ tối, nhóm cho ăn ngày 4 lần lúc 6, 10, 14, 18 giờ.

Các mục kiểm tra là: hành động của nái, tỷ lệ chuyển cai sữa (28 ngày), lượng cám nái ăn vào (vì số heo con nái nuôi có sự khác biệt nên ta tính trên đơn vị một heo con sau khi trừ lượng cám để duy trì sức khỏe cho bản thân nái), thay đổi trọng lượng nái (trọng lượng khi cai sữa, trọng lượng một tuần trước khi đẻ), số ngày lên giống lại, tỷ lệ lên giống lại sau cai sữa, tình trạng phát triển của heo con.

Cách chuồng nái khoảng 1m, có một camera ghi hình được lắp ở độ cao 2,5m. Máy quay ghi hình tập trung từ lúc heo con cuối cùng sinh ra tới 3 ngày sau.

Hành động của nái được chia làm 7 loại: thời gian heo đứng (bao gồm cả thời gian ăn), số lần đứng dậy, số lần uống nước, thời gian ăn, thời gian nằm (bao gồm cả thời gian cho bú), thời gian cho bú (dù chỉ có một heo con bú vẫn tính thời gian bú), số lần cho bú.

Số lần cho ăn và năng suất nái nuôi con

2. Hành động của nái nuôi con:

Hành động của nái nuôi heo con được thể hiện qua Bảng 1. Vì tổng thời gian quay của mỗi nái có sự khác biệt nên Bảng 1 thể hiện hành động của mỗi nái trong một tiếng.

Bảng 1: Số lần cho ăn ảnh hưởng tới hành động của nái



Thời gian đứng ở nhóm 1 lần là 12,4 phút, nhóm 2 lần 10,2 phút; nhóm 4 lần là 7,6 phút tuy có sự giảm dần nhưng chênh lệch ở từng cá thể lại lớn nên khó kết luận thời gian đứng chịu ảnh hưởng của số lần cho ăn.
Số lần đứng cũng không liên quan tới số lần cho ăn.

Thời gian nằm ở nhóm 1 là 41,2 phút, nhóm 2 là 42,4 phút và nhóm 4 là 46,5 phút tuy có dài hơn nhưng chênh lệch ở từng cá thể lại lớn nên khó kết luận hành động này chịu sự ảnh hưởng của số lần cho ăn.

Số lần uống nước chịu sự ảnh hưởng của số lần cho ăn. Thời gian ăn cũng tăng dần theo số lần cho ăn là ở nhóm 1 lần là 1,4 phút, nhóm 2 lần là 1,8 phút, nhóm 4 lần là 4,6 phút.

Khi tính thời thời gian cho bú trên một heo con thì ta thấy ở nhóm 1 lần là 0,9 phút, nhóm 2 lần và nhóm 4 lần là 0,7 phút. Tuy nhiên, chênh lệch ở từng cá thể lại lớn nên khó kết luận hành động này chịu sự ảnh hưởng của số lần cho ăn.

Số lần cho bú ở nhóm 1 là 1,5 lần, nhóm 2 là 1,4 lần và nhóm 4 là 1,3 lần. Kết quả này cho ta thấy, nếu cho ăn ít lần thì số lần cho bú sẽ nhiều lên đáng kể.

3. Số lần cho ăn ảnh hưởng tới năng suất nái:

Bảng 2: Số lần cho ăn ảnh hưởng tới năng suất



Lượng cám nái ăn/1 heo con không chịu ảnh hưởng nhiều bởi số lần cho ăn. Các nhóm thí nghiệm cũng xấp xỉ 0,3kg.

Trọng lượng thay đổi của nái có sự khác biệt. Ở một số thí nghiệm tiếp theo cũng cho thấy có sự liên quan đến sự thay đổi trọng lượng với số lần cho ăn.

Tỷ lệ lên giống lại trong 7 ngày sau cai sữa ở nhóm 2 lần là tốt nhất sau đó đến nhóm 1 lần và 4 lần. Như vậy, số lần cho ăn có ảnh hưởng đến sự lên giống lại của heo và số ngày lên giống lại cũng chịu ảnh hưởng.

Ngoài ra, tỷ lệ chuyển cai sữa ở nhóm 1 là 100%, nhóm 2 là 87,2% và nhóm 3 là 78,2% chứng tỏ chỉ số này chịu ảnh hưởng của số lần cho ăn.

4. Số lần cho ăn ảnh hưởng tới tình trạng phát triển của heo con:

Vì số lượng heo con và trọng lượng sơ sinh ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của heo con nên để cho thí nghiệm tránh sai số, nhóm nghiên cứu đã lấy tổng tăng trọng của bầy đến ngày 7 và đến ngày 20 thể hiện trong Bảng 3.

Bảng 3: Số lần cho ăn ảnh hưởng tới sự phát triển của heo con



Kết quả trên cho thấy, nếu số lần cho ăn tăng thì tăng trọng có khuynh hướng giảm.

5. Mối liên quan giữa hành động nái nuôi con, tỷ lệ chuyển cai sữa và sự phát triển của heo con:

Nái nhóm cho ăn 1 lần có kết quả tốt về tỷ lệ chuyển thịt, trong 3 nhóm chúng có thời gian đứng dài và số lần đứng cũng nhiều hơn. Có thể là do nái đứng nhiều, heo con ít bị nái đè nên năng suất tốt hơn.

Về sự phát triển của heo con, nhóm cho ăn 1 lần cũng có hiệu quả tốt, có thể là do thời gian cho bú và số lần cho bú nhiều.

Ngoài ra, vì mỗi nái có sự khác biệt lớn nên nhiều mục tiêu trong nghiên cứu chưa thể kết luận được. Sau nghiên cứu này, cần đặt ra những nghiên cứu khác với số lượng nái tham gia lớn, quan sát luôn cả hành động heo con thì sẽ mang lại kết quả tốt hơn.

Heo bị stress nhiệt: Phải làm sao?Nếu heo bị stress nhiệt và không thể tự cân bằng nhiệt chúng sẽ sinh bệnh. Trong trườn...
29/08/2021

Heo bị stress nhiệt: Phải làm sao?
Nếu heo bị stress nhiệt và không thể tự cân bằng nhiệt chúng sẽ sinh bệnh. Trong trường hợp xấu nhất, có thể nó sẽ chết.
Heo bị stress nhiệt xảy ra khi nhiệt độ cơ thể của heo tăng vượt quá giới hạn nhất định. Khi đó, việc đầu tiên là heo sẽ tăng tỷ lệ hô hấp của nó như một phản ứng tự nhiên để cân bằng nhiệt.

Sau đó nó sẽ tìm kiếm các cách làm mát từ môi trường, như là đắm mình trong bể nước hay nằm lên các vũng nước tiểu.

Stress nhiệt cần thiết được loại bỏ để ngăn ngừa những phản ứng không cần thiết và làm giảm năng suất chăn nuôi. Nhiệt độ quá cao sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của heo thịt (có thể giảm đến 50 g/ngày) và giảm tỷ lệ đẻ của heo nái đến 25%.

Vậy mục tiêu của việc duy trì nhiệt độ thích hợp cho heo trong suốt quá trình chăn nuôi là:

• Duy trì khả năng sinh sản của heo nái trong suốt cả năm.
• Duy trì lượng thức ăn ăn vào và tốc độ tăng trưởng của heo thịt trong suốt mùa hè.
Cách tiến hành nhằm giảm stress nhiệt cho heo gồm 2 công việc chính:
• Kiểm tra tổng quát toàn trang trại.
• Quản lý phù hợp đối với từng đối tượng, loại heo khác nhau.

Heo bị stress nhiệt

A – Danh sách kiểm tra tổng quát:

1. Kiểm tra toàn bộ chuồng nuôi:

Kiểm tra hệ thống cách nhiệt trên mái nhà, nó có thể hư hỏng theo thời gian. Cách nhiệt tốt giúp chuồng nuôi luôn mát mẻ vào mùa hè và ấm vào mùa đông.

Nếu khu vực chuồng heo đẻ tiếp giáp với chuồng heo thịt, nên đóng kín cửa lại tránh làm tổn thất nhiệt sang khu vực chuồng đẻ.

Nhiệt độ của khu vực chuồng đẻ cũng nên được kiểm soát và điều chỉnh cho phù hợp với độ tuổi và sức khỏe của heo con.

Một ví dụ điển hình của việc tấm cách nhiệt của trần nhà bị hư hại góp phần làm heo bị stress nhiệt.

2. Thông gió:

Luôn đảm bảo đủ số lượng và kích thước quạt cần thiết cho toàn bộ diện tích chuồng nuôi. Xem xét nếu cần thì bổ sung thêm quạt thay cho các hệ thống thông gió tự nhiên đối với những ô chuồng lớn.
Duy trì tình trạng vệ sinh sạch sẽ, mát mẻ và kiểm tra định kỳ nhằm đảm bảo các quạt luôn hoạt động tốt.

3. Hệ thống báo động và các thiết bị khẩn cấp:

Hệ thống báo động và các thiết bị khẩn cấp như máy phát điện phải được kiểm tra thường xuyên. Khi nhiệt độ tăng cao vượt mức cho phép, nhất là khi mất điện phải đảm bảo các thiết bị đó luôn trong tình trạng sẵn sàng.

Ngoài ra, toàn bộ nhân viên cũng phải nắm được quy trình xử lý khi có báo động xảy ra, nhằm giảm thiểu mọi ảnh hưởng do stress nhiệt gây ra cho heo.

4. Nước:

Đảm bảo luôn đủ nguồn nước sạch, mát cho heo mọi lúc.

Hệ thống núm uống nước phải đảm bảo không quá ít so với số lượng heo trong ô chuồng và phải luôn hoạt động tốt. Nếu có bất kỳ nghi ngờ nào về việc đó, nên cung cấp nước bổ sung trong máng để dự phòng.
Mật độ núm uống và diện tích máng uống theo khuyến cáo của các nhà chăn nuôi heo:



Heo không thể đổ mồ hôi nhưng có thể cảm thấy mát mẻ và dễ chịu hơn nếu da ẩm. Khi trời quá nóng, có thể bố trí thêm vòi phun nước (dạng nhỏ giọt) trong ô chuồng giúp heo thoải mái hơn. Các bạn có thể tham khảo cách làm chi tiết trong tài liệu Giúp heo tránh nóng hiệu quả.

B – Hướng dẫn quản lý:

1. Heo giống:

– Heo nái:

Nếu được chăm sóc, làm mát 2 lần vào buổi sáng và chiều trong 1 ngày, heo nái sẽ cảm thấy rất dễ chịu.
Dùy trì vệ sinh tốt, đặc biệt là bể nước, nơi heo nái “đắm mình” khi nóng bức. Ngoài ra, luôn đảm bảo vệ sinh âm hộ sạch sẽ trước khi thụ tinh. Các bạn có thể đeo găng tay để cọ rửa cho heo hoặc dùng các dụng cụ vệ sinh chuyên dụng khác.

– Heo đực giống:

Stress nhiệt có xu hướng làm giảm ham muốn tình dục của heo đực giống và có thể làm giảm khả năng sống của tinh dịch lên đến 8 tuần sau khi stress nhiệt.

Bởi thế, dù là vào mùa thu nhưng hãy nhớ kiểm tra chất lượng tinh trùng kỹ càng, nhất là sau khi stress nhiệt (hoặc sau mùa hè) ít nhất là 8 tuần.

Tinh dịch được bảo quản trong tủ bảo quản tinh mini chuyên dụng

Kiểm soát nhiệt độ của liều tinh là rất quan trọng vì chúng có thể trở nên quá nóng 1 cách nhanh chóng và giảm chất lượng đáng kể. Phải đảm bảo liều tinh được bảo quản trong 1 bình chứa cách nhiệt khoảng 16-18oC và tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp cho đến khi mang ra thụ tinh.

2. Heo mẹ đang cho con bú:

Cho heo ăn 2 lần/ngày và 3 lần/ ngày vào giữa giai đoạn cho con bú, bữa tối nên cho ăn nhiều hơn 2 bữa kia 1 chút. Kiểm tra máng ăn thường xuyên, không để thức ăn thừa đã hỏng, ôi thiu trong máng, nhất là mùa nóng.

Kiểm tra chất lượng nước và tốc độ dòng chảy (nên là 2-2,5 lit/phút) trong khoảng thời gian cao điểm mỗi ngày. Nếu quá nóng và heo ăn kém, có thể cho ít nước làm ẩm cám cho heo ăn.

Kiểm soát nhiệt bổ sung trong chuồng heo đẻ. Đặc biệt là 12h đầu sau khi sinh heo con. Mục đích là để heo con và heo mẹ không quá lạnh hay quá nóng.

Khu vực ổ của heo con nên được cách nhiệt, tránh làm heo mẹ nóng. Ngoài ra, nếu heo mẹ quá nóng, ta có thể dùng nước lạnh làm ướt cổ cho heo nhưng tuyệt đối không làm ướt heo con.

Ổ heo con có nắp trượt phía trên có thể mở ra dễ dàng để quan sát heo con

3. Heo nái mang bầu:

Heo bị stress nhiệt có thể làm thiếu hụt 1 số hormone cần thiết hỗ trợ cho bào thai heo. Nên chuẩn bị cho heo 1 nền bê tông ướt, sạch để nằm lên cho mát.

Chú ý quan sát vị trí heo nằm vào các thời điểm trong ngày, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp lên vị trí đó. Nếu cần thiết, có thể dùng rèm che bớt cửa sổ lại.

4. Heo choai và heo vỗ béo:

Kiểm tra chất lượng nước và tốc độ dòng chảy thường xuyên đủ cho heo dùng.



Kiểm tra thức ăn, không để tình trạng bị lên men do mùa nóng thức ăn thường lên men rất nhanh chóng. Nếu cần thiết, nên điều chỉnh lại việc đặt hàng thức ăn, tránh thức ăn tồn trong kho quá nhiều, nhất là các thùng chứa thức ăn lại có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào.

Giảm mật độ heo trong mỗi ô chuồng và sử dụng vòi phun để làm mát cho heo nếu quá nóng, tránh tình trạng heo bị stress nhiệt.

Sử dụng nái ghép bầy và môi trường cho heo sơ sinhCác phương pháp quản lí nuôi dưỡng hiện nay như ( All in- all out và q...
28/08/2021

Sử dụng nái ghép bầy và môi trường cho heo sơ sinh
Các phương pháp quản lí nuôi dưỡng hiện nay như ( All in- all out và quản lí theo tuần) khiến ta cai sữa tất cả heo con cùng một lúc.
I. Sử dụng nái ghép bầy:



Nái ghép bầy là nái nuôi heo con yếu từ những heo mẹ khác.



Để khắc phục tình trạng heo con chậm phát triển ta phải chú ý tới 2 khoảng thời gian quan trọng là tuần đầu sau khi sinh (thời gian 1) và tuần cuối cùng trước khi cai sữa (thời gian 2) .



Các phương pháp quản lí nuôi dưỡng hiện nay như ( All in- all out và quản lí theo tuần) khiến ta cai sữa tất cả heo con cùng một lúc. Nhưng vấn đề của việc quản lí này là có khoảng 10% heo con yếu. Để khắc phục tình trạng trên ta phải sử dụng một số nái để nuôi tiếp những heo con này.



Ví dụ, một tuần trước khi cai sữa ta chọn những heo con chậm phát triển, chuyển chúng về một chỗ rồi đưa nái vào. Những nái này phải có điểm thể trạng (Body Condition Score – BCS) phù hợp, hoặc sử dụng nái dự định đào thải cũng được.



Để nắm rõ khi nào cần chuẩn bị nái để ghép bầy ta cần kiểm tra trước thể trạng của nái, và đánh dấu những heo con chậm phát triển. Và khi số lượng những heo con này phù hợp ta bắt đầu chuẩn bị nái.



Nếu ta chú ý quan sát những heo con chậm phát triển này thì sẽ không bị chậm trễ trong việc chuẩn bị nái ghép bầy.



Lựa chọn nái phù hợp để nuôi heo con khỏe mạnh:



Nái trẻ thường dễ dàng chấp nhận heo con mới. Cần phải chú ý lượng cám ăn vào của nái và dấu hiệu của tuyến vú vào ngày kế tiếp khi ghép bầy.
Nếu có thể lựa chọn nên lựa chọn nái lứa đầu hoặc lứa 2 để ghép bầy:
Giả sử nếu ta không lựa được nái lứa đầu và lứa 2 thì ta phải sử dụng nái từ lứa 3~5. Vào thời gian 2, ta có thể sử dụng nái tiết sữa còn tốt mà ta định đào thải.
Để tránh cho nái lên giống và ngừa tiết sữa (chống viêm vú) ngày đầu nên giảm lượng cám cho ăn. Ngày đầu tiên ghép bầy nên cho nái ăn ít, khoảng 2 đơn vị cám (1,8 kg).
Phải chuẩn bị nái ghép bầy trước khi heo con bị chậm phát triển:
Heo con sơ sinh bị chậm phát triển do bú sữa không đầy đủ. Đặc biệt trong thời gian 1 ta cần chuẩn bị nái ghép bầy thật nhanh chóng. Nguyên nhân chậm phát triển của heo con trong thời gian 2 thường là do viêm khớp và một số lí do khác.
Cần kiểm tra xem nái có chấp nhận heo con không:
Sau khi di chuyển ghép bầy, nái không chấp nhận heo con, nái có cảm giác bất an. Có nhiều trường hợp sau khi ghép bầy được 24 tiếng nái mới từ chối heo con. Khi đó cần phải chuyển nái khác vào.


Heo con tuy nhỏ nhưng nếu khỏe mạnh thì cũng không cần ghép bầy:



Những heo con này không cần tách ra khỏi mẹ.
Không di chuyển heo con bị nhiễm bệnh:
Nếu có những heo con bị nhiễm bệnh thì những con heo này phải được cách ly và điều trị.


Nuôi nái ghép bầy



II. Môi trường nuôi heo con mới sinh:



Trong trại đẻ môi trường thích hợp cho nái và heo con là khác biệt nhau. Yếu tố môi trường nuôi của nái cần phải tính đến đầu tiên đó là nhiệt độ và độ ẩm. Đối với heo con điều cần phải tính đến đầu tiên là nơi nghỉ ngơi thích hợp cho heo con.



Vào trước ngày dự kiến sinh phải bật đèn úm. Heo con có thể tự tìm tới nơi thích hợp sau khi sinh khoảng 24 tiếng. Chính vì vậy cần duy trì nhiệt độ trong trại đẻ vào ngày đẻ khoảng 220C . Heo con nếu được bú sữa đầu sẽ nâng cao được hệ miễn dịch, và kích thích heo mẹ tiết sữa nhiều hơn.



Nơi nghỉ ngơi của heo con phải đáp ứng được các điều kiện sau.



1. Duy trì nhiệt độ thích hợp cho heo con:



Nhiệt độ cần thiết cho heo con là 34~370C. Nhiệt độ này phù hợp với nhu cầu sinh lý của heo con. Nếu thấp hơn nhiệt độ này thì thân nhiệt heo con sẽ giảm sút. Nếu heo con nằm ở nền lạnh thì sau 2 tiếng thân nhiệt sẽ giảm xuống 34~350C, nếu tiếp tục giảm nhiệt độ heo có thể chết.

Nhằm đảm bảo cho heo mẹ ăn được đầy đủ thức ăn cần duy trì nhiệt độ trong trại đẻ thấp hơn so với nhiệt độ phù hợp với heo con. Vì vậy, khu vực heo nái và nơi nghỉ ngơi của heo con cần phải được duy trì nhiệt độ riêng biệt. Cần phải làm như vậy để heo con không mất năng lượng cho việc duy trì thân nhiệt và có thể phát triển bình thường.

Để hạn chế nhiệt độ xuống thấp, trước thời gian nái đẻ, nên thiết kế khu vực sưởi ấm cho heo con, được chặn bằng các miếng chắn giúp tăng nhiệt độ khu vực heo con nằm. Nên có cửa để heo con tự do ra vào.



2. Phải giữ khô:



Ẩm độ của trại nuôi heo đẻ cao hết sức có hại cho heo con. Nhiệt độ thích hợp cho heo con là 34 độ C, nhưng nếu nền chuồng ẩm ướt thì thân nhiệt có thể xuống tới 24~290C. Chính vì vậy, trước khi nhập heo nái đẻ, chuồng trại phải được giữ khô hoàn toàn. Tránh để khu vực sưởi heo con bị dơ bởi phân heo và nước tiểu, khiến heo con phải ra ngoài ngủ, heo con có thể sẽ bị nhiễm lạnh.



3. Ngăn gió lạnh:



Nếu không khí lạnh tràn vào khu sưởi heo con với tốc độ cao, heo con sẽ bị lạnh. Khu vực sưởi phải là nơi ấm nhất ở trong trại. Gió lạnh sẽ làm heo con không thoải mái, dễ bị bệnh vì vậy cần phải đảm bảo kín gió ở khu vực sưởi của heo con.

Giải quyết vấn đề dịch bệnh trong nông trạiỞ mỗi trang trại chăn nuôi đều có những bệnh đặc trưng cho từng trang trại đó...
27/08/2021

Giải quyết vấn đề dịch bệnh trong nông trại
Ở mỗi trang trại chăn nuôi đều có những bệnh đặc trưng cho từng trang trại đó. Bệnh thường hay xảy ra có thể ra do sự xâm nhập của vi khuẩn và vi-rút gây bệnh từ bên ngoài, hoặc đã tiềm ẩn trong trang trại.
1. Thiết lập chương trình vắc-xin

Tuy chỉ số hàm lượng kháng thể của bầy heo của các trại có sự khác biệt, nhưng khi thực hiện chương trình vắc-xin cần chú ý tham khảo một số điều căn bản sau:

- Hầu như các loại vắc-xin trên heo không gây ảnh hưởng lẫn nhau đến hiệu quả của chúng, tuy nhiên nên chích vắc-xin PPV và HC cách nhau tối thiểu 1 tuần.
- Thời gian hình thành miễn dịch tối thiểu là 2 tuần, vì thế hai tuần trước khi đẻ phải hoàn thành chương trình vắc-xin.
- Thời gian giữa 2 lần chích vắc-xin lần 1 và 2 phải từ 2~3 tuần (nên theo hướng dẫn của nhà sản xuất)
- Khi lập chương trình vắc-xin nên tham khảo ý kiến bác sĩ thú ý để phù hợp với tình hình trang trại.

2. Lựa chọn thuốc và phương pháp sát trùng

- Lựa chọn thuốc:

Mỗi trại đều có các loại vi khuẩn, vi-rút, nấm mốc, chất hữu cơ, điều kiện nhiệt độ, pH... khác nhau nên tác dụng của các loại thuốc sát trùng cũng không như nhau. Đặc biệt, có một số loại thuốc sát trùng không có hiệu quả trên một số vi-rút. Vì vậy, khi lựa chọn nên căn cứ vào tình hình của trại nuôi heo và tham khảo ý kiến người sản xuất.

Vệ sinh chuồng trại heo

- Các biện pháp sát trùng:

Sát trùng cửa chính: Hầu như các vật trung gian truyền bệnh đều đi qua cửa chính. Ta phải sát trùng xe, người ra vào, vệ sinh tay...
Sát trùng đường đi chính: Phải rải vôi hoặc định kì xịt sát trùng đường dẫn từ cổng chính đến cửa vào trại.
Sát trùng hệ thống nước uống: Áp dụng một tháng một lần. Giai đoạn dịch bệnh uy hiếp thì hai tháng một lần. Ta có thể sử dụng amoni clorua bậc 4 để sát trùng.
Sát trùng khu bãi rác: Sử dụng các biện pháp xử lý, tiêu hủy tốt nhất, có thể sát trùng bằng vôi hoặc xút.
Sát trùng trong ngoài trại: Xịt sát trùng trong và ngoài trại.
Sát trùng nái: Tắm rửa và sát trùng nái trước khi chuyển sang trại đẻ.
Ủng và quần áo lao động: Cấp ủng và quần áo lao động riêng biệt.

3. Đơn giản hóa việc sử dụng thuốc

Rất nhiều trang trại sử dụng các loại thuốc có thành phần giống nhau. Chỉ với việc phòng ngừa và điều trị trong trại nuôi heo đã có hàng chục loại kháng sinh. Nên đơn giản hóa việc sử dụng kháng sinh, chỉ sử dụng kháng sinh có hiệu quả cao trong trại. Nếu làm được việc này sẽ giảm được nguy cơ bị lờn thuốc.

4. Biện pháp đối phó với dịch bệnh theo từng mùa và từng giai đoạn nuôi

Nếu các loại bệnh trong trại tăng thì sẽ dẫn đến tình trạng heo bị bệnh đa nhiễm. Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sẽ phát sinh mạnh theo từng mùa và từng giai đoạn nuôi. Vì thế, cần chú ý kiểm soát bệnh và điều trị tận gốc nhằm ngăn chặn tình trạng heo bị bệnh đa nhiễm.

Năng suất nuôi heo là định hướng cho lợi nhuận?Không thể phủ nhận những ảnh hưởng của các thông số trên đối với lợi nhuậ...
26/08/2021

Năng suất nuôi heo là định hướng cho lợi nhuận?
Không thể phủ nhận những ảnh hưởng của các thông số trên đối với lợi nhuận, nhưng theo phân tích cuối cùng, đó cũng không phải là tác nhân chính. Tác nhân chính của lợi nhuận chính là năng suất.
Không phụ thuộc chi phí thức ăn hay giá heo như thế nào, lợi nhuận cũng sẽ thấp trừ khi năng suất được duy trì. Bất cứ nỗ lực nào để cắt giảm chi phí sẽ làm cho năng suất đầu ra bị ảnh hưởng và luôn luôn bị phản tác dụng.



Điều này không có nghĩa là chúng ta không ý thức được tầm quan trọng của chi phí, tuy nhiên, việc quản lý đầu vào cần phụ thuộc vào hiệu quả của tổng chi phí hơn là từng chi phí đơn lẻ. Nếu chi phí đầu tư đem lại khả năng sản xuất tốt thì đó là một cơ hội tuyệt vời để nâng cao lợi nhuận chung.



Giá thành sản xuất có thể giảm xuống tùy theo chi phí thức ăn và chí phí không phải thức ăn trong sản xuất. Giá trị của thành phần thức ăn trong giá thành sản suất không chỉ là chi phí thức ăn mà còn là hiệu quả mang lại khi sử dụng (tỉ lệ chuyển hóa thức ăn hoặc kg thức ăn/ kg cân nặng của heo). Thức ăn giá rẻ không hẳn sẽ đem lại chi phí thấp hơn nếu như hiệu quả chuyển hóa thức ăn kém hơn.



Thành phần không phải thức ăn chính là chi phí lao động, thuế và điện nước, giấy phép, thú y… Các chi phí này thường cố định vì thế ảnh hưởng của chúng lên chi phí sản xuất phụ thuộc phần lớn vào số lượng heo sản xuất. Khi số lượng heo sản xuất tăng lên, trung bình số kg cân nặng heo cho các chi phí cố định này sẽ cao hơn, vì thế mà chi phí trên mỗi kg thịt heo được giảm xuống.



Hiệu quả tương tự trong chi phí thức ăn trên heo sinh sản. Khi sản xuất nhiều heo con/nái/năm hơn, chi phí thức ăn cho heo nái trên 1 kg giảm đi, và vì thế làm giảm chi phí sản xuất.



Vì thế, hai thành phần chính trong công thức này không phải là giá heo hay chi phí thức ăn, mà chính là số lượng heo sản xuất và hiệu quả sử dụng thức ăn.



Năng suất trại heo



Các nhà sản xuất heo có thể ít nhiều kiểm soát giá heo – được điều tiết bởi quy luật cung – cầu và có thể bị ảnh hưởng bởi các sự kiện diễn ra trên thị trường thế giới hoặc ngay tại địa phương. Đây là 3 yếu tố chính quyết định lợi nhuận (theo thứ tự quan trọng):



- Năng suất

- Hiệu quả

- Chi phí



Năng suất nghĩa là tổng lượng thịt heo được bán ra hoặc cân nặng. Điều này bị chi phối bởi số lượng heo được sản xuất/ nái/năm và cân nặng của heo khi được bán ra.



1. Gia tăng số lượng heo sản xuất



Heo nái trong giai đoạn sinh sản nên được đưa vào một quy trình khép kín từ lúc giao phối đến giai đoạn chọn lọc cuối cùng. Những ngày nào heo nái không mang thai hoặc không đang trong giai đoạn tiết sữa đều được coi là ngày bị thất thoát (ngày trống), vì thế, những ngày này càng ít càng tốt.



Ba chỉ tiêu chính của năng suất heo nái luôn có mối liên hệ cùng nhau trong kết quả cuối cùng:

- Số lần sinh sản (lứa đẻ/ nái/ năm)

- Quy mô ổ đẻ (heo con sinh ra còn sống/ lứa đẻ)

- Tỉ lệ sống sót (giai đoạn trước và sau cai sữa)



Cho rằng có 1300 kg thức ăn được sử dụng/ heo nái/ năm (bao gồm thức ăn cung cấp cho heo hậu bị giống) và 200 kg thức ăn / con heo từ lúc mới sinh đến lúc bán khi cân nặng đạt 90kg; năng suất tăng từ 15 lên 24 con heo/nái/năm, HFCR cải thiện được 11,5%. Dựa theo các kết quả trên và phối hợp với hiệu quả sản lượng trên các yếu tố không phải thức ăn, ảnh hưởng của chúng lên chi phí sản xuất.



Vì vậy, nếu không có những thay đổi về chi phí thức ăn hay bất cứ chi phí đầu vào nào, năng suất nái tăng từ 15 lên 24 con heo được bán/năm sẽ làm giảm 25 % giá thành sản xuất.



Vậy, điều gì quyết định năng suất của heo nái hay số lượng xuất chuồng? Câu trả lời là không có yếu tố riêng biệt nào. Đây là vấn đề liên quan đến tất cả các khía cạnh của quá trình sinh sản và tăng trưởng, cũng như những yếu tố khác có liên quan.



2. Các vấn đề chi tiết liên quan 3 yếu tố của năng suất sinh sản của heo nái gồm:



Mang thai
Chu kỳ lên giống/ phát hiện lên giống
Giao phối (số lượng, thời điểm phối, chất lượng, kỹ thuật)
Tỉ lệ thụ thai (quản lý, di chuyển, nhốt chung, stress)
Dưỡng thai (quản lý dinh dưỡng, sức khỏe, stress)
Những ngày chờ phối (mức độ phát hiện)
Quy mô ổ đẻ
Sự rụng trứng (di truyền / mức độ dinh dưỡng/ kích thích)
Thụ thai (kỹ thuật giao phối, chất lượng tinh dịch, thời điểm phối)
Sự đóng ổ trong tử cung (tử cung nguyên vẹn, kiểm soát stress)
Khả năng sống sót của thai (quản lý dinh dưỡng, chất độc, bệnh dịch)
Sự chết thai (quản lý dinh dưỡng, giám sát)
Lứa đẻ (cân đối)
Sống sót
Cân nặng khi sinh (dinh dưỡng vào giai đoạn cuối thai kỳ)
Cân nặng cai sữa (lượng sữa sản sinh)
Stress môi trường
Thách thức đối với sức khỏe
Quản lý (tỉ lệ không lên giống, vận động, nhốt riêng, giám sát, thời gian đáp ứng)


3. Sản xuất thịt heo



Nuôi dưỡng heo thịt giữ vai trò quan trọng đối với năng suất, giai đoạn này chiếm đến 80 % lượng thức ăn tiêu thụ, và cũng là giai đoạn quyết định kết quả cuối cùng.



Năng suất và hiệu quả đạt được tối đa khi heo phát triển tối ưu lượng nạc của cơ thể, đạt được ngưỡng cân nặng đáp ứng theo yêu cầu của thị trường và không bị thiệt hại. Muốn thế cần có sự gia tăng lượng nạc mỗi ngày.



4. Ảnh hưởng lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn bao gồm:



Tiềm năng gia tăng lượng nạc (kiểu di truyền, giới tính)
Thức ăn ăn vào (mức độ, tính ổn định)
Chất lượng thức ăn (mức tiêu hóa, sự cân bằng dinh dưỡng, vệ sinh)
Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn
Sức khỏe
Stress (thể chất, xã hội, môi trường)
Sự lãng phí thức ăn
Các yếu tố phát triển không đồng đều


Thành công của heo nuôi thịt không hoàn toàn độc lập với giai đoạn nuôi giống. Cân nặng khi sinh và cân nặng giai đoạn cai sữa là những yếu tố quyết định đến năng suất của heo. Điều này có hàm ý liên quan đến dinh dưỡng khi heo nái mang thai, sự phát triển của thai nhi trong bụng mẹ cũng như khả năng tiết sữa của heo nái cho đến giai đoạn heo con cai sữa. Năng suất của heo nái bao gồm chất lượng heo con (cân nặng, sự đồng đều, thể chất) cũng như số lượng heo con được chọn lựa. Mycotoxin có trong thức ăn dành cho heo nái sẽ làm giảm sự phát triển của bào thai và hạn chế lượng sữa được sản sinh, hậu quả là làm cho heo con sinh ra ốm yếu.



Điều tôi muốn đề cập trong bài viết này là những hiểu biết về mặt lý thuyết về tỉ lệ lượng mô nạc, lượng thức ăn ăn vào và các thành phần của cơ thể trong hiệu quả chung. Hai yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả chuyển đổi thức ăn đó là sự phân bổ năng lượng cho việc duy trì và phát triển của heo, và thành phần của sự tăng trọng.



5. Duy trì và tăng trưởng



Theo khái niệm thực tế, năng lượng duy trì là năng lượng cần thiết đảm bảo sự sống của thú không tăng hay giảm cân. Đáp ứng được yêu cầu duy trì là việc vô cùng cần thiết đối với bất kỳ sự tăng trưởng nào. Trong sản xuất, thường xảy ra những thất thoát do heo chết, vì thế, chúng ta cần giảm thiểu tối đa lượng thức ăn duy trì để đạt được hiệu quả thức ăn cao nhất. Điều này đạt được thông qua việc thúc đẩy lượng thức ăn ăn vào càng nhiều càng tốt, để lượng thức ăn ăn vào đáp ứng đủ yêu cầu duy trì và phục vụ trực tiếp cho sự tăng trưởng.



Tại điểm duy trì, sự tăng trưởng ở mức bằng không và vì thế hiệu quả thức ăn được tính theo công thức: X thức ăn / 0 tăng trưởng = ∞ ( không xác định). Khi lượng thức ăn ăn vào tăng lên vượt qua ngưỡng này thì hiệu quả của thức ăn cũng tăng lên rất nhiều (nhìn Sơ đồ 2), đạt đến mức cao nhất lượng nạc được sản sinh.



Yêu cầu về duy trì thường được biểu thị là MAIN. Năng lượng cung cấp cho một ngày (DE - MJ/ ngày) = 0.5W0.75. Cho 80 kg thịt heo trưởng thành năng lượng duy trì cần khoảng 13 MJ DE/kg tương đương 1 kg thức ăn. Vì thế, kg thức ăn đầu tiên mỗi ngày cho heo không tạo sự tăng trưởng, nó chỉ đóng vai trò thành phần nền tảng của thức ăn, ảnh hưởng trực tiếp lên sự tăng trưởng. Vì thế, bất kỳ điều gì làm hạn chế lượng thức ăn ăn vào (sức khỏe, quản lý, cung cấp nước…) đều làm giảm mạnh hiệu quả của thức ăn.



6. Thành phần của các mô tăng trọng



Thành phần chính của các mô tăng trọng là mỡ và nạc. Thành phần nạc cần tiêu tốn năng lượng khoảng 10 MJ DE/kg trong khi thành phần mỡ thì cần cao hơn, 55 MJ DE/kg. Vì thế thành phần mỡ khá đắt nếu nói theo năng lượng tiêu tốn, hiệu quả của thức ăn đạt được tốt nhất khi lượng mỡ tạo thành được giảm tối đa.



Một khi lượng mô nạc tiềm năng đạt được ngưỡng thì việc thức ăn cung cấp vượt mức sẽ chuyển hóa trực tiếp thành mỡ và hiệu quả của thức ăn sẽ bắt đầu bị giảm.



Vì vậy, mức độ tối ưu của lượng thức ăn ăn vào nên thay đổi tùy theo di truyền và giới tính của heo, phụ thuộc vào năng suất tạo nạc của chúng.



Vì vậy, đâu là mục tiêu hợp lý cho hiệu quả thức ăn trong giai đoạn tăng trưởng? FCR (kg thức ăn/ kg cân nặng heo sống) có thể thay đổi từ 1,0 ở giai đoạn heo mới cai sữa cho đến 3,0 ở giai đoạn cuối quá trình trưởng thành.



Dựa trên năng lượng trung bình của chế độ ăn, FCR cân nặng từ giai đoạn cai sữa đến khi đưa vào lò mổ là:

- 13,0 MJ DE/kg = 2,17

- 13,5 MJ DE/kg = 2,09

- 14,0 MJ DE/kg = 2,01



Áp dụng mức năng lượng hiệu quả như trên chúng ta có thể dự kiến được HFCR (tỉ lệ chuyển đổi thức ăn trong đàn hoặc kg thức ăn/ kg cân nặng thịt được sản xuất).



Năng lượng tiêu tốn của heo từ giai đoạn cai sữa (6- 10 kg thể trọng) đến khi đưa vào lò mổ khoảng 94 kg x 28,2 MJ DE = 2650 MJ DE hoặc 192 kg của 13,8 MJ DE/kg thức ăn.



Thức ăn của nái/ năm = 1300 kg (bao gồm cả giai đoạn hậu bị)
Số heo con sản xuất/ heo nái/ năm = 24 heo
Thức ăn cho nái / heo được bán ra = 54 kg
Tổng thức ăn / heo được bán ra = 54 + 192 = 246 kg
Trọng lượng quầy thịt = 75 kg
HFCR = 3,28


Mặc dù giá trị này là có thể thực hiện được, nhưng kết quả ghi nhận từ sản xuất thương mại thường ở mức 3.5 – 3.8.



Nếu năng suất heo nái giảm, mức tăng trưởng chậm, hoặc mức độ heo mập tăng (vì bất cứ lý do gì), HCFR có thể dễ dàng tăng lên 4,5 – 5,0, điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất và làm giảm lợi nhuận.



Điều cần nói là lợi nhuận giữa 2 mô hình sản xuất này chênh lệch tới 4 lần chỉ do sự khác biệt về năng suất, hiệu quả sử dụng thức ăn trong khi giá thức ăn và giá heo là như nhau.

Address

Quỳnh Phụ, Thái Bình
Thai Binh

Telephone

+84972611588

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chuyên dinh dưỡng vỗ béo vật nuôi, thượng hạng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Chuyên dinh dưỡng vỗ béo vật nuôi, thượng hạng:

Share

Category