19/11/2025
CÔNG NGHIỆP DU LỊCH VĂN HÓA – ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ HẠ TẦNG NGUỒN LỰC ĐẤT NÔNG NGHIỆP
(Chuyên đề mang tính nghiên cứu & hội đàm)
1. Văn hoá – nền tảng hình thành kinh tế du lịch thế hệ mới
Trong thập niên vừa qua, hệ thống chính sách quốc gia dần chuyển trọng tâm sang kinh tế sáng tạo và các ngành công nghiệp văn hoá. Những định hướng chiến lược 2030–2045 cho thấy Việt Nam xác lập quan điểm phát triển mới: giá trị văn hoá không còn ở dạng tĩnh, mà được tổ chức lại thành một hệ sinh thái có khả năng sinh lợi, thúc đẩy cơ hội kinh tế, tạo việc làm và đảm bảo bản sắc vùng miền.
Trong hệ thống 10 ngành công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa được xem là một trong những trụ cột có biên độ tác động lớn nhất. Du lịch văn hóa không chỉ phản ánh sức sống của truyền thống mà còn tạo ra sản phẩm mới từ ký ức, không gian, lịch sử, nghề nghiệp, cảnh quan nông thôn và cộng đồng bản địa. Sự chuyển đổi này đặc biệt phù hợp với bức tranh kinh tế ở các địa phương Việt Nam – nơi tài nguyên văn hoá và tài nguyên nông nghiệp phân bố dày đặc nhưng còn thiếu mô hình khai thác mang tính hệ thống.
Trong bối cảnh đó, du lịch cộng đồng (Community-Based Tourism – CBT) nổi lên như một mô hình tiêu biểu. CBT có khả năng chuyển tài nguyên văn hoá – xã hội thành nguồn thu bền vững đồng thời giữ nguyên vai trò chủ thể của người dân. Khi đặt du lịch cộng đồng trong mạch vận động của công nghiệp văn hoá, giá trị kinh tế được nâng lên rõ rệt: sản phẩm được chuẩn hóa, bản sắc được định vị, trải nghiệm được thiết kế, nguồn lực được tổ chức theo chuỗi.
Đây chính là cơ sở để các địa phương xây dựng Đề án phát triển du lịch cộng đồng gắn với công nghiệp văn hoá, và cũng là tiền đề cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào “nền kinh tế trải nghiệm” tại nông thôn.
2. Vì sao công nghiệp du lịch văn hoá là chìa khóa của du lịch cộng đồng?
2.1. Khuyến khích mô hình kinh doanh dựa trên bản sắc
Chiến lược quốc gia vừa được phê duyệt đặt trọng tâm phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên tài sản văn hoá, từ kiến trúc, làng nghề, lễ hội, không gian cư trú, đến tri thức bản địa. Điều này mở ra cơ sở pháp lý để địa phương chủ động xây dựng Đề án du lịch cộng đồng theo hướng chuyên nghiệp. Thay vì khai thác tự phát, mô hình CBT có thể bước sang giai đoạn chuẩn hóa sản phẩm, có quy chuẩn, có thương hiệu và có chuỗi dịch vụ.
2.2. Tái định nghĩa vai trò của người dân trong chuỗi giá trị
Du lịch văn hoá đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm. Người dân không chỉ “tham gia” mà trở thành đơn vị sản xuất dịch vụ du lịch. Mỗi hộ dân, mỗi mô hình nghề truyền thống, mỗi thửa đất nông nghiệp… đều là một “đơn vị sáng tạo” trong chuỗi cung ứng sản phẩm văn hoá – du lịch. Sự chuyển đổi nhận thức này là nền móng để CBT vận hành bài bản.
2.3. Tạo ra môi trường chính sách thuận lợi cho đầu tư tư nhân
Chiến lược 2030–2045 khuyến khích hình thành các không gian sáng tạo, khu phức hợp văn hoá – du lịch, và hệ sinh thái doanh nghiệp sáng tạo vùng nông thôn. Điều này mở đường cho doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ gia đình có điều kiện đề xuất Đề án phát triển du lịch cộng đồng mà không phải chờ sự dẫn dắt của chính quyền.
Với một tổ chức hay doanh nghiệp có kiến thức pháp lý và nguồn lực đất đai, cơ hội đi đầu càng rõ rệt hơn: xây dựng mô hình mẫu, thí điểm quy mô nhỏ, sau đó mở rộng thành chuỗi giá trị liên kết với toàn vùng.
3. Hạ tầng nguồn lực đất nông nghiệp – nền móng của du lịch cộng đồng
3.1. Đất nông nghiệp như “không gian văn hoá mở rộng”
Trước đây, đất nông nghiệp được nhìn chủ yếu từ góc độ sản xuất. Tuy nhiên, khi du lịch cộng đồng gắn với công nghiệp văn hoá, đất nông nghiệp trở thành một thành phần hữu cơ của trải nghiệm văn hoá – du lịch. Cảnh quan ruộng bậc thang, làng cổ, vườn cây, vùng muối, nếp nhà truyền thống, hệ thống mương thủy lợi, đường làng, bờ xứ đồng… đều là “tài nguyên văn hoá” nếu được tổ chức và diễn giải đúng cách.
Điều này giúp thay đổi bản chất của các mô hình farmstay, homestay, nông trại trải nghiệm, làng nghề, không gian nghề truyền thống. Những hoạt động từng bị xem là tự phát có thể được “định danh” lại thành sản phẩm văn hoá – du lịch có giá trị kinh tế.
3.2. Cấu trúc pháp lý mới: Đất nông nghiệp trong mô hình kinh tế hỗn hợp
Luật Đất đai 2024 cùng các nghị định mới tạo ra nhiều cửa thí điểm, đặc biệt trong nhóm sử dụng đất nông nghiệp kết hợp thương mại – dịch vụ, nếu được phê duyệt bằng Đề án của địa phương. Phù hợp Chính sách Sử dụng đất kết hợp đa mục đích (điều 218/Luật2024; điều 99/ND102/2024,…)
Đối với du lịch cộng đồng, đây chính là “mảnh ghép” then chốt:
- Một thửa đất nông nghiệp có thể được dùng để tổ chức trải nghiệm nông nghiệp, giáo dục môi trường, tổ chức sự kiện nhỏ, không gian trưng bày, sản phẩm OCOP, khu ẩm thực truyền thống hoặc điểm check-in.
- Một cụm hộ dân có thể liên kết để hình thành tuyến trải nghiệm văn hoá – nông nghiệp – ẩm thực – sinh thái.
- Một doanh nghiệp có thể trở thành đơn vị điều phối, đầu tư hạ tầng giao thông nội vùng, năng lượng, nhà vệ sinh, bãi đỗ xe, hệ thống an toàn, đào tạo nhân lực, xây dựng thương hiệu vùng.
Đây là nền tảng để du lịch cộng đồng vượt khỏi phạm vi “mỗi nhà làm một kiểu”.
3.3. Cần một “Hệ thống kiến trúc pháp lý” cho từng điểm đất
Mỗi điểm đất khi tham gia mô hình CBT đều phải có “pháp lý con”:
- Pháp lý về sử dụng đất;
- Pháp lý về xây dựng (nếu có hạng mục kiến trúc);
- Pháp lý về kinh doanh dịch vụ du lịch – lưu trú;
- Pháp lý về vệ sinh, an toàn, môi trường;
- Pháp lý về PCCC;
- Pháp lý về văn hoá (nếu khai thác nghệ thuật, trình diễn, lễ hội).
Khi không có hệ thống này, mô hình CBT chỉ tồn tại ở mức độ phong trào. Khi được trang bị đầy đủ, CBT trở thành một ngành kinh tế thực thụ.
4. Động lực mới cho địa phương xây dựng Đề án phát triển du lịch cộng đồng
4.1. Chiến lược quốc gia tạo khung chính sách để địa phương chủ động hành động
Từ việc công nghiệp văn hoá được đặt trong chiến lược phát triển quốc gia, các địa phương có cơ sở để:
- Lựa chọn vùng ưu tiên phát triển du lịch cộng đồng;
- Xây dựng quy hoạch không gian văn hoá – du lịch;
- Ban hành bộ tiêu chí sản phẩm du lịch văn hoá;
- Huy động doanh nghiệp đầu tư;
- Kêu gọi tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng tham gia phát triển.
Trước đây, du lịch cộng đồng thường phát sinh tự phát. Hiện nay, địa phương có đủ cơ sở để chuyển sang mô hình quản trị bằng Đề án chính thức, gắn với các chỉ tiêu kinh tế.
4.2. Thị trường du lịch chuyển từ “thăm quan” sang “trải nghiệm – học hỏi – kết nối”
Công nghiệp văn hoá nhấn mạnh đến giá trị sáng tạo. Du lịch cộng đồng theo định hướng mới không chỉ phục vụ chụp ảnh và lưu trú, mà hướng đến:
- Du lịch học thuật (learning tourism);
- Du lịch nghề truyền thống;
- Du lịch nông nghiệp;
- Du lịch văn hoá trải nghiệm 3–5 ngày;
- Du lịch chữa lành (healing tourism);
- Du lịch giáo dục gia đình.
…
Sự dịch chuyển nhu cầu du khách tạo ra nhu cầu tương ứng về hạ tầng: đất đai, không gian văn hoá, không gian canh tác, không gian trưng bày, hệ sinh thái sản phẩm địa phương.
4.3. Tăng năng lực cạnh tranh vùng và hình thành thương hiệu địa phương
Khi các tỉnh bắt đầu xây dựng đề án CBT theo hướng công nghiệp văn hoá, lợi thế vùng được định hình rõ rệt hơn:
- Tây Bắc có thể đi vào trục văn hoá dân tộc – bản làng – ruộng bậc thang;
- Bắc Trung Bộ khai thác nghề muối, biển, lễ hội, văn hoá làng Việt;
- Tây Nguyên phát huy không gian văn hoá cồng chiêng và sản phẩm nông nghiệp;
- Đồng bằng Sông Cửu Long dựa trên nông nghiệp – sông nước – ẩm thực.
Một đề án tốt sẽ biến địa phương thành “điểm đến sáng tạo” thay vì “điểm đến ngẫu nhiên”.
5. Cơ hội cho doanh nghiệp và cá nhân muốn chủ động xây dựng đề án
5.1. Doanh nghiệp có thể đi trước rồi đề xuất chính quyền cùng tham gia
Chiến lược 2030–2045 khuyến khích cơ chế thí điểm. Doanh nghiệp hoặc cá nhân có tầm nhìn hoàn toàn có thể:
- Xây dựng mô hình mẫu;
- Tổ chức chuỗi trải nghiệm;
- Chuẩn hóa quy trình vận hành;
- Thiết kế sản phẩm;
- Thiết lập liên kết cộng đồng;
- Sử dụng dữ liệu GIS, bản đồ văn hoá, đất đai;
- Sau đó trình chính quyền phê duyệt mở rộng theo dạng Đề án.
Những mô hình thành công ở Sa Pa, Mai Châu, Ba Bể, Quảng Nam đều được hình thành từ cách làm này.
5.2. Lợi thế lớn khi sở hữu nguồn lực đất nông nghiệp
Doanh nghiệp/ Cá nhân có sẵn quỹ đất hoặc khả năng hợp tác với cộng đồng sẽ có ưu thế vượt trội:
- Không gian được tổ chức theo tuyến và cụm;
- Sản phẩm được đa dạng hóa theo mùa vụ;
- Dễ xây dựng hệ sinh thái kinh tế phụ trợ (ẩm thực, homestay, dịch vụ trải nghiệm, workshop);
- Dễ đo lường tác động kinh tế của đề án.
Ở góc độ kinh tế nông thôn, đầu tư vào CBT là hình thức “kích hoạt giá trị nguồn lực đất đai” hiệu quả, phù hợp với xu hướng kinh tế hỗn hợp của nông nghiệp Việt Nam.
5.3. Sở hữu dữ liệu – yếu tố quyết định năng lực dẫn dắt
Một đơn vị muốn đứng đầu thị trường không chỉ dựa vào tài chính. Năng lực quyết định chính là dữ liệu vùng đất:
- Bản đồ hiện trạng đất đai;
- Dữ liệu văn hoá;
- Lịch sử làng nghề;
- Quy hoạch;
- Hạ tầng giao thông;
- Nguồn lực cộng đồng;
- Dòng du khách mục tiêu;
- Khả năng tích hợp công nghệ (GIS, UAV, ảnh hàng không, dữ liệu phân vùng).
Khi sở hữu hệ dữ liệu này, doanh nghiệp có thể thiết kế mô hình CBT với độ chính xác, tính dự báo và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn.
6. Kết luận: Hình thành “Kiến trúc Du lịch Văn hoá – Cộng đồng – Đất đai” cho thập niên mới
Việt Nam đang bước vào giai đoạn mà công nghiệp văn hoá giữ vai trò trục dọc trong cấu trúc phát triển kinh tế. Du lịch văn hoá, khi kết nối với du lịch cộng đồng và hạ tầng đất nông nghiệp, tạo thành một kiến trúc phát triển mới: có bản sắc, có nền tảng kinh tế, có hạ tầng pháp lý, có cơ hội đầu tư dài hạn.
Một địa phương nếu xây dựng được Đề án CBT dựa trên ba yếu tố này sẽ có lợi thế phát triển vượt trội:
- Gia tăng nguồn thu từ văn hoá;
- Tạo việc làm và thu nhập cho người dân;
- Phát triển thương hiệu vùng;
- Thu hút đầu tư tư nhân;
- Bảo tồn tài nguyên cộng đồng;
- Phát huy giá trị đất nông nghiệp trong nền kinh tế sáng tạo.
Trong bối cảnh toàn quốc thúc đẩy kinh tế tư nhân, khuyến khích sáng tạo, và tái định vị vai trò của văn hoá, du lịch cộng đồng không còn là câu chuyện của từng hộ dân. Đây là một ngành kinh tế mới, có phương pháp, có quy chuẩn và có tiềm năng trở thành một trong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế nông thôn Việt Nam.
Ps: Sau buổi khảo sát xây dựng đề án phát triển Du lịch Cộng đồng tại môttj vùng đất. Mình viết lưu dòng tư duy như trên.
Rất mong nhận được những chia sẻ từ quý cộng đồng.
Trân trọng!
Ths. Trần Công Thuỷ
- Nhà hoạch định chiến lược Nguồn lực Đất.
- Phó Viện trưởng. Viện phát triển Kinh tế, Văn hoá, Xã hội Số.