Bác sỹ thú y Sunvet

Bác sỹ thú y Sunvet Tất cả vì thú cưng của bạn

06/11/2014

VIRUS GÂY VIÊM RUỘT TRÊN CHÓ
1. Viêm ruột do Parvovirus type 2 trên chó
Căn nguyên: CPVs là những virus nhỏ, không vỏ được nhân lên bằng cách phân chia tế bào rất nhanh. CPVs có 3 chủng: CPV 2a (phân lập 1984), 2b (phân lập 1984), 2c (phân lập 2000).
Dịch tễ học: Ở những động vật nhạy cảm, mắc bệnh sẽ nguy hiểm và có tỷ lệ chết rất cao. CPV lây nhiễm hầu hết là do phân bị lây nhiễm phát tán ra môi trường. Thời kỳ ủ bệnh của CPV2 là 7-14 ngày. CPV đường ruột dạng cấp tính có thể thấy trên chó tùy theo giống, tuổi , giới tính. Tuy nhiên chó con giai đoạn 6 tuần đến 6 tháng tuổi dường như có nguy cơ bị bệnh cao hơn.
Sinh bệnh học: Sự nhân lên của virus bắt đầu ở mô lympho của vòm họng, các nốt lympho màng treo ruột, tuyến ức và truyền lây đến các nếp gấp ở các đoạn ruột nhỏ, dẫn đến nhiễm trùng máu (sau 1-5 ngày bị lây nhiễm). Các chủng CPV bắt đầu bài thải ở ngày thứ 3 hoặc thứ 4 sau khi tiếp xúc với mầm bệnh trước khi có những dấu hiệu lâm sàng xuất hiện. CPV thải ra trong phân nhiều nhất sau 7-10 ngày. Virus có thể phân lập từ phổi, lách, gan, thận và cơ tim.
Bệnh lý: virus gây phá hủy và làm hư hỏng lớp biểu mô. Kết quả là tế bào bình thường bị phá hủy và lớp lông nhung bị ngắn. CPV phá hủy các tế bào Leuko và lympho, dẫn đến sự giảm bạch cầu trung tính và bạch cầu lympho. Sự nhiễm trùng thứ phát các vi khuẩn gram âm và vi trùng yếm khí, dẫn đến sự hư hại đường ruột, nhiễm trùng máu, nội độc tố và dẫn đến sự đông tụ nội mạc thành mạch.
Triệu chứng lâm sàng: Sự nhiễm CPV biểu hiện ở 3 điểm chính: hệ tiêu hóa (GI), tủy xương và cơ tim nhưng da và mô thần kinh cũng bị ảnh hưởng.
Parvovirus đường ruột: Parvo đường ruột có thể tiến triển nhanh, đặc biệt với các chủng mới a,b,c của CPV1.Tình trạng ói mửa xảy ra dữ dội, tiêu chảy, chán ăn và mất nước nhiều. Phân chuyển màu xám vàng, có lẫn máu tươi và máu thẩm. Nhiệt độ trực tràng tăng cao (40-410C) và tăng bạch cầu, đặc biệt là trong các trường hợp nghiêm trọng. Sự chết xảy ra sớm trong vòng 2 ngày sau khi bị bệnh tấn công và thường kết hợp với sự nhiễm khuẩn gram âm hoặc đông tụ nội mạc thành mạch hoặc cả hai.
Bệnh thần kinh: Dấu hiệu thần kinh có thể do sự xuất huyết vào trong hệ thống thần kinh trung ương hoặc bị giảm đường huyết trong suốt quá trình bệnh, sự nhiễm khuẩn hoặc sự rối loạn các ion acid – bazo.
Bệnh về da: Những tổn thương gồm: loét ở gan bàn chân, miệng và màng nhày âm đạo. Các hốc trong xoang mũi và các mảng bang đỏ ở bụng và vùng da xung quanh âm hộ cũng được phát hiện.
Viêm cơ tim: CPV gây viêm cơ tim có thể phát triển do lây nhiễm từ dạ con hoặc bào thai nhỏ hơn 6 tuần thai. Tất cả chó non đều bị ảnh hưởng. Chó con bị nhiễm CPV gây viêm cơ tim đều bị chết hoặc chết sau một thời gian ngắn có biểu hiện triệu chứng, khó thở, la hét và ói mửa.
Chứng huyết khối: Những chó này có thể tăng chứng huyết khối hoặc viêm tĩnh mạch ống niệu hoặc cục nghẽn mạch.
Nhiễm khuẩn nước tiểu: Do sự nhiễm bẩn từ phân của cơ quan sinh dục ngoài kết hợp với Neutropenia. Sự nhiễm bệnh trên hệ tiết niệu mà không được điều trị có thể dẫn đến bệnh đường niệu mãn như một hậu quả không mong muốn.
Chẩn đoán: Chó tiêu chảy lẫn máu xảy ra ít, tình trạng tiêu chảy không xuất huyết thì xảy ra thường xuyên hơn trên chó bị nhiễm CPV. Những con chó bị chết do bệnh thì có tổng số lượng bạch cầu bằng hoặc thấp hơn 1030 tế bào/microlit máu. Ở chó bị Parvo thể ruột, cholesteron huyết thanh và cholesteron lipoprotein nồng độ cao thì bị suy giảm và nồng độ triglyceride thì tăng lên, ngược lại, sự tăng nồng độ cholesteron thì tỷ kệ với mức độ trầm trọng của bệnh. Nồng độ cortisol huyết thanh cao và thyroxin thấp sau 24-48h sau khi chăm sóc kèm theo tỷ lệ tử vong trên chó do Parvo thể tiêu chảy.
Sự phát hiện ra VSV: Test ELISA , Agglutination test, Test PCR, Real-time PCR.
Phát hiện kháng thể: Chẩn đoán huyết thanh không phải là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán CPV, kiểm tra huyết thanh có thể hữu ích trong để đánh giá nồng độ MDA ở chó con.
Bệnh lý: Thành ruột dày và nhiều đoạn bị đổi màu, xù xì hoặc bám fibrin trên bề mặt màng thanh dịch; niêm mạc ruột bị b**g tróc, sẩm màu, đôi khi có máu chất chứa ở dạ dày và ruột lỏng. Sự tăng sinh và phù nề ở các nốt lympho đường ruột hoặc bụng xảy ra, Phù phổi hoặc viêm phế nang. Viêm cơ tim gây biểu hiện nhạt màu cơ tim, viêm cơ tim không mưng mủ với sự thâm nhiễm các lympho bào và các tương bào.
Điều trị: Mục đích chính của việc điều trị các triệu chứng của PCV đường ruột là cân bằng lại nước và chất điện giải cũng như ngăn ngừa sự nhiễm trùng thứ phát. Các chất kháng khuẩn(Ampimicine, Ceftiofur, Gentamycine…), điều hòa vận động(Chlopromazine, Metoclopamide…) và các chất chống nôn (Cimetincine, Raniticine). Cung cấp nước có lẽ là phương pháp điều trị quan trọng nhất trong điều trị các triệu chứng lâm sàng.
2. Nhiễm Parvovirus 1 trên chó
Căn nguyên: Năm 1967, CPV1 được phân lập đầu tiên trong phân trên những chó.
Dịch tễ học: chủ yếu chỉ có những chó nhỏ hơn 3 tuần mới có triệu chứng lâm sàng của bệnh. Virus tiếp xúc qua đường miệng (4-6 ngày) tấn công ruột non, lách, các nốt lympho niêm mạc ruột, tuyến ức. Ngoài ra, CPV1 có khả năng vượt qua nhau thai và làm thai nhi tử vong và gây khuyết tật bẩm sinh.
Chẩn đoán:Ở chó con (dưới 8 tuần tuổi) với dấu hiện tiêu chảy nhẹ về mặt lâm sàng. Sử dụng EM trong phân, mẫu tăm bông trực tràng từ những con chó bản địa già để quan sát PCV1. Sử dụng test HI và VN.
Bệnh lý: Phù nề, tuyến ức teo, các nốt lympho sưng lớn, phân mềm nhão trong đường ruột và những vệt màu xám nhạt sâu bên trong cơ tim như được tìm thấy ở CPV2. Tổn thương mô học chủ yếu hình thành thể vùi trong nhân của những biểu mô lớn ở phần đầu của vi nhung mao tá tràng và kết tràng.
Điều trị và phòng ngừa: Điều trị không có hiệu quả do sự tiến triển nhanh của bệnh. Hiện nay, vaccine thì không có sẵn.
3. Viêm ruột do Coronavirus trên chó
Căn nguyên: Bộ Nidovirales, Họ Coronaviridae, được chia thành chủng CcoV1 và CcoV2. Các gen coronavirus là các RNA sợi đơn, có vỏ bọc.
Dịch tễ học: CCoV được bài thải ra trong phân của chó bị nhiễm vài tuần đến vài tháng hoặc lâu hơn và là nguồn truyền lây chính (đường tiêu hóa).
Sinh bệnh học: Thời gian ủ bệnh ngắn 1-4 ngày đối với thú ngoài thực địa, bài thải trong phân từ 3 đến khoảng 14 ngày sau khi nhiễm bệnh. Sau khi xâm nhập vào đường tiêu hóa, CCoV tấn công các tế bào biểu mô trưởng thành của nhung mao của ruột non, các tế bào M trong biểu mô mảng Peyer. Virus và kháng nguyên virus được vận chuyển đến các mô bạch huyết nằm bên dưới. Virus này cũng nhanh chóng tái tạo trong tế bào biểu mô và tích lũy trong không bào tế bào chất. Virion từ các không bào được phóng thích trực tiếp vào môi trường bên ngoài thông qua màng sinh chất hoặc có thể được phóng thích sau khi ly giải tế bào chất của tế bào bị nhiễm.
Kết quả lâm sàng: Xuất hiện đột ngột các triệu chứng tiêu chảy trước đôi khi nôn mửa. Phân màu cam, rất hôi và thường xuyên có máu. Chán ăn, thờ ơ cũng là dấu hiệu phổ biến và sốt không kéo dài. Hầu hết chó bị ảnh hưởng sẽ được phục hồi một cách tự nhiên sau 8-10 ngày.
Bệnh lý: Các cơ vòng ruột giãn ra và mỏng, tích nước, phân xanh-vàng. Các hạch bạch huyết màng treo thường được sưng lớn và phù nề. Sự bào mòn các lông nhung ruột và độ sâu của các nếp nhăn đặc trưng cho tổn thương đường ruột do CCoV.
Chẩn đoán: Sử dụng EM có thể phát hiện CCoV trong phân tươi. Xét nghiệm PCR phát hiện huỳnh quang trực tiếp để phát hiện chủng, số lượng virus và các kiểu gen của CCoV. Ngoài ra, còn sử dụng Test VN và ELISA
Điều trị: Cần điều trị hỗ trợ để duy trì nước và cân bằng điện giải như trong nhiễm CPV2. Các kháng sinh phổ rộng có thể được điều trị nhiễm khuẩn thứ phát. Chăm sóc điều dưỡng tốt, bao gồm cả việc giữ ấm và yên tĩnh cho chó.
Phòng bệnh: Virus sống nhược độc (MLV) và vaccine chết. Tiêm hai liều, cách nhau 3-4 tuần và tái chủng hàng năm được khuyến cáo, bất kể tuổi tác.
4. Nhiễm Rotavirus trên chó
Nguyên nhân: Họ Reoviridae, ARN sợi kép (70-75 nm), 20 mặt, ba lớp và không có vỏ bọc. Bộ gen gồm 11 phân đoạn. Lớp protein bên ngoài được cấu tạo bởi hai protein: VP4 và VP7. Hầu như tất cả các chủng CRV phát hiện cho đến nay là G3P.
Dịch tễ học: Rotaviruses được truyền qua ô nhiễm phân-miệng. Virus thích nghi rất tốt khi ở bên ngoài vật chủ và giai đoạn qua đường tiêu hóa trên. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi.
Sinh bệnh học: Sau khi xâm nhập vào tế bào niêm mạc ruột, virus phóng thích một số lượng lớn các virions và trở thành nguồn lây nhiễm cho các đoạn ruột phần dưới và cho động vật khác. Hoại tử tế bào được biểu hiện rõ nhất 18 đến 48 giờ sau khi nhiễm qua đường miệng.
Kết quả lâm sàng: Dấu hiệu lâm sàng thường không nghiêm trọng như với các virus gây viêm ruột khác (CPV-2 và CCoV). Tiêu chảy nước lẫn nhầy kéo dài từ 8-10 ngày là bình thường. Các chó con thường vẫn còn sốt.
Bệnh lý: Những thay đổi bệnh lý được giới hạn ở ruột non, như sự bào mòn lớp nhung mao từ nhẹ đến trung bình. Các chủng virus độc lực cao hơn có thể gây hoại tử và b**g tróc nhẹ lớp tế bào ruột ở phần đầu của các nhung mao ruột.
Chẩn đoán: Test ELISA, Test ngưng kết Latex, Sử dụng EM xác định virus trong phân.
Điều trị và phòng ngừa: Hầu hết những con chó có thể tự phục hồi khỏi bệnh tự nhiên. Điều trị, nếu cần thiết thì điều trị triệu chứng như đã mô tả cho CPV2 thể ruột. Không có vaccine có sẵn cho CRV.
Các virus gây viêm ruột khác: Calicivirus và Norovirus, giống Astrovirus, Herpesvirus, Echovirus, Coxsackievirus, Orthoreovirus, Reovirus.

18/10/2014

Coronavirus trên họ mèo (FCoV) là nguyên nhân gây viêm ruột phổ biến trên loài mèo gây tử vong cao còn có tên gọi là nhiễm trùng phúc mạc trên mèo (FIP).
Coronavirus mèo serotype I và II: Có 2 type FCoV, FCoV type I đuợc xem là chủng duy nhất trên mèo. Cả 2 type có thể gây FIP. Mèo có thể đồng thời nhiễm cùng lúc 2 type FCoV
Lứa tuổi: mèo ở mọi lứa tuổi điều có thể bị FIP, mèo con dễ bị FIP sau cai sữa, và hầu hết các mèo từ 3 -16 tháng tuổi điều bị, thời điểm có nguy cơ cao thứ 2 là mèo trên 10 năm tuổi.
Giống: Các mèo có bố mẹ cùng giống (mèo thuần chủng) thì có nguy cơ bị FIP cao hơn những mèo có bố mẹ khác giống (mèo lai).
Nondomestic Felidae (thú hoan dã họ mèo): Nhiễm FCoV và bị FIP đã được báo cáo trên nhiều loài thú hoan dã họ mèo, các mèo nuôi nhốt trong nhà hoặc nuôi làm kiểng dễ bị nhiễm FCoV hơn là những con mèo được đi lang than ở ngoài tự nhiên
Coronavirus trên các loài thú cưng khác: Chồn có 2 biểu hiện rất rỏ khi bị nhiễm coronavirus: viêm ruột catar và viêm phúc mạc. Chó thường được xem là nguồn lây nhiễm CCoV. Coronavirus thường được lây truyền giữa chó và mèo sống trong phạm vi gần.
SINH BỆNH HỌC
Sự phát tán virus (sự bày thải virus): Virus được bày thải qua phân sau khi nhiễm 2 ngày. Đa số mèo không còn thảy virus qua phân sau 2-3 tháng, mặc dù một số mèo bị nhiễm virus (13%) hình thành thể mãn tính. phát hiện các mèo nhiễm mãn tính bằng phương pháp RT-PCR mẫu phân sau 9 tháng. Stress do bị buộc di chuyển nơi ở làm gia tăng sự bày thải virus 101-106 lần.
Truyền lây: Mèo bị nhiễm FCoV qua đường ăn uống, thường là gián tiếp do tiếp xúc với chất độn chuồn có virus. FCoV có thể tồn tại 7wks trong môi trường khô. FCoV dễ dàng bị bất hoạt bởi các chất tẩy rửa gia dụng và chất khử trùng. FCoV có thể truyền từ mẹ sang con.
Xâm nhiễm đại thực bào và gây viêm mạch: Sử dụng hóa mô miễn dịch, Kipar và cộng sự, đã chứng minh FCoV bên trong các đại thực bào bám chặt vào thành mạch máu và gây tắt nghẽn mạch đó là vấn đề chủ chốt trong sự phát triển thành FIP.
Đáp ứng miễn dịch với FCoV: Ngoài độc lực của chủng đang lây nhiễm FCoV, bị suy giảm khả năng miễn dịch có thể làm cho mèo dễ bị các nhiễm trùng toàn thân. Hầu hết các mèo FIP điều có lịch sử bị stress trước đó vài tháng. Stress như thế gây ra 2 ảnh hưởng: tăng tính nhạy cảm của mèo với FIP; làm suy giảm hệ thống miễn dịch và tăng sự bày thải virus 101-106 lần.
LÂM SÀNG
Nhiễm lần đầu: Hầu hết các trường hợp nhiễm FCoV điều có dấu hiệu cận lâm sàng. Mèo con bị nhiễm FCoV thường có lịch sử tiêu chảy, đôi khi còi cọc và các biểu hiện ở đường hô hấp trên.
Coronavirus gây viêm ruột: Tiêu chảy thường xuyên hiện diện trên mèo con từ 5 wks tuổi và đôi khi nôn mửa xuất hiện ở mèo con và một vài mèo lần đầu bị nhiễm FCoV, là 1 bệnh gây tiêu chảy và thường mèo tự thu mình (tự kỷ) trong 1 vài tuần. Mãn tính, tiêu chảy đã được ghi nhận trên mèo già, khỏe mạnh, mèo mang trùng FCoV, có thể dẫn đến tiêu chảy không kiểm soát.
Bệnh viêm mạch đa hệ thống: 2 dạng cơ bản của FIP có tính chất đặc trưng là ướt và khô. Trong FIP ướt, nhiều mạch máu bị ảnh hưởng, tăng tiết dịch và các protein huyết tương vào các khoan cơ thể. Trong FIP khô, các biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào cơ quan bị nguy hại bởi viêm mạch do FIP. Các mèo trải qua nhiều năm sống trong môi trường 1 mình thì khó có thể bị FIP.
Bệnh có tiết dịch (effusive disease): Các mèo bị FIP có cổ trướng, Các mèo này có thể lanh lẹ hoặc khù khờ, biếng ăn hoặc bình thường. Bụng sưng có chất lỏng, sốt nhẹ (39 ° C to 39.5 ° C [102.2 ° F to 103.1 ° F]), giảm cân, khó thở, thở gấp, bùi phình to, tiếng tim rít, xanh xao hoặc vàng da có thể được ghi nhận.
Bệnh không có tiết dịch (noneffusive disease): FIP khô (không tiết dịch) là biểu hiện mãn tính của bệnh, xuất hiện vài tuần đến vài tháng sau nhiễm và bị stress gây ra. Dấu hiệu (triệu chứng) của FIP khô thường mơ hồ và bao gồm sốt nhẹ, giảm cân, khù khờ, chán ăn (ăn ít). Mèo có thể bị vàng da. Hầu như tất cả mèo FIP khô bị viêm nội nhãn (mắt). Sờ nắn bụng thường thấy các nốt bạch huyết treo ruột sưng và cũng có thể thấy thận bất thường hoặc bất thường các nốt trong nội tạng khác. X-quang ngực có thể cho thấy mật độ không đều trong phổi (không đồng nhất).
Các triệu chứng mắt. Các đấu hiệu ở mắt phổ biến nhất trong FIP là viêm mống mắt, Thường tất cả hoặc 1 phần mống mắt trở thành màu nâu.
Triệu chứng thần kinh. ở các mèo FIP khô, 25-33% có các bất thường về thần kinh. Dấu hiệu lâm sàng thường gặp nhất là thay đổi trạng thái thần kinh sau đó mất điều hòa (mất kiểm soát cơ) tiếp theo rung giật nhãn cầu và sau đó co giật.
Colonic or Intestinal Localization (Tổn thương đường tiêu hóa): Đôi khi, các cơ quan chính hoặc chỉ cơ quan bị ảnh hưởng bới FIP u hạt là ruột. Tổn thương thuờng thấy ở kết tràng hoặc ngã 3 van hồi manh nhưng cũng có thể trong ruột non. Mèo có thể có các triệu chứng lâm sàng khác thường là táo bón, tiêu chảy mãn tính, hoặc nôn mữa. Sờ nắn bụng thường cảm thấy ruột dày lên. Phát hiện huyết học có thể là sự tăng số lượng hồng cầu.
Tổn thương da: Các tổn thương liên quan đến da là nốt sần trong da đường kính khoản 2mm trên cổ, 2 chân trước, và 2 bên cơ ngực.
Mèo con sơ sinh và trước khi sinh: FIP là nguyên nhân truyền nhiễm phổ biến thứ hai gây tử vong ở mèo con sau cai sữa nhưng không gây tử vong từ sơ sinh đến cai sữa (Fading Kitten Syndrome: yếu dần rồi chết mà không biết rỏ lý do). Tuy nhiên, nhiễm FCoV thật sự dẫn đến còi cọc, tăng tỷ lệ tiêu chảy và các triệu chứng hô hấp trên mèo con.
Nondomestic Felidae (Thú hoan dã họ mèo): FCoV có thể là một tác nhân gây bệnh quan trọng đối với họ mèo nuôi và hoan dã, loài báo (A.jubatus) có nguy cơ mắc bệnh cao nhất.
PHÒNG BỆNH
Vaccine chống lại (phòng) FIP: Đã có 1 loại vaccine phòng chống FIP (Primucell, Pfi zer Animal Health, New York). Hiệu quả của Primucell dựa trên phần trăm ngăn ngừa được (xem thời gian miễn dịch và đo lường kháng thể, chương 100) đã được báo cáo là 50 – 75%. Trong 1 khảo sát khác cho thấy vaccine này không có hiệu quả.
Sự ngăn ngừa FIP cho mèo giống: Vệ sinh tốt và thiết kế chuồng trại là điều kiện cần thiết để giảm mức độ và sự lây lan FCoV.
Các biện pháp chăn nuôi: Các mèo không bị nhiễm nên được tách riêng với các mèo bị nhiễm và mèo mới nên được cách ly trước. Kiểm soát giao phối. Cai sữa sớm và cách ly mèo con. Các con của mèo cái đang bày thải FCoV sẽ được bảo vệ khỏi nhiễm bởi MAD (kháng thể mẹ truyền) cho đến khi chúng được ít nhất 5-6 wks tuổi.
VẤN ĐỀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
Con người không thể bị nhiễm FCoV hoặc tiến triển FIP.

Address

178B Nguyễn Chí Thanh
Ho Chi Minh City

Telephone

01265389936

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bác sỹ thú y Sunvet posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category