BÁC SỸ THÚ Y

BÁC SỸ THÚ Y Cùng nhau chia sẻ kiến thức về chăm sóc, chẩn đoán, bảo vệ động vật

HÀNG PHÁP - CHẤT LƯỢNG ÂU CHÂUAN TOÀN - HIỆU QUẢEURICAN CHPLRVắc xin phòng bệnh Carré, bệnh do Adenovirus type 2, Parvov...
26/06/2017

HÀNG PHÁP - CHẤT LƯỢNG ÂU CHÂU
AN TOÀN - HIỆU QUẢ
EURICAN CHPLR

Vắc xin phòng bệnh Carré, bệnh do Adenovirus type 2, Parvovirus, bệnh do Leptospira canicola, Leptospiraicterohaemorrhagiae và bệnh dại trên chó.

CÔNG DỤNG:
Phòng bệnh Carré, bệnh do Adenovirus, Parvovirus, bệnh do Leptospira canicola, Leptospira icterohaemorrhagiae và bệnh dại trên chó.

eurican-chplr
ĐƯỜNG CẤP THUỐC: Tiêm dưới da.

LIỀU LƯỢNG: Liều 1 ml/ con (pha lọ vắc xin đông khô với lọ vắc xin 1 ml). Lịch tiêm phòng như sau:

Chủng ngừa lần đầu:

– Một mũi tiêm từ 03 tháng tuổi với Eurican CHPLR.

– Một mũi tiêm phòng các bệnh Lepto 1 tháng trước hay sau khi tiêm Eurican CHPLR.

Chủng ngừa nhắc lại: hằng năm.

CHÚ Ý:

Chỉ tiêm cho chó khoẻ mạnh và đã được tẩy giun trước khi tiêm phòng ít nhất 10 ngày.

Trong trường hợp có nguy cơ dịch nội vùng của bệnh Letospirosis, khuyến cáo nên lặp lại sau 6 tháng.

Sử dụng ngay sau khi pha loãng vắc xin.

Bất kỳ chất thải nào từ sản phẩm vắc xin nên được loại bỏ theo luật hiện hành.

PHẢN ỨNG PHỤ: Hiếm có phản ứng quá mẫn sau khi tiêm vắc xin, khi đó điều trị theo triệu chứng.

Sự hiện diện của hydroxide nhôm đôi khi hình thành những nốt nhỏ tạm thời tại chỗ tiêm.

QUÁ LIỀU: Tiêm quá liều có thể gây ra tình trạng suy yếu cũng như phản ứng thoáng qua tại chỗ.

THỜI GIAN NGƯNG SỬ DỤNG: không.

BẢO QUẢN: Bảo quản ở nhiệt độ từ +2°C đến +8°C, tránh ánh sáng. Không để đông đá.

DẠNG BÀO CHẾ: dạng đông khô.

QUI CÁCH ĐÓNG GÓI: Lọ vắc xin đông khô 1 liều và 1 lọ vắc xin dung dịch 1 ml.

SẢN XUẤT TẠI: Merial, Pháp.

https://www.youtube.com/watch?v=N1PRrlPPLPQ
22/06/2017

https://www.youtube.com/watch?v=N1PRrlPPLPQ

Ông trùm đưa ra phán xử hợp tình hợp lý quá... mỗi cái không giải quyết được gì cả. Bà Phương và Vân không thuộc về nhau. Buồn cười nhất đoạn cuối :D. Theo d...

Mầm bệnh cầu trùng và những ứng dụng vào thực tế2635 lượt.  BỆNH TRÊN HEO Ngày20 Tháng 8 2015 Khái niệm bệnh          Bệ...
30/05/2016

Mầm bệnh cầu trùng và những ứng dụng vào thực tế
2635 lượt. BỆNH TRÊN HEO Ngày20 Tháng 8 2015
Khái niệm bệnh
Bệnh cầu trùng trên heo do 1 loài ký sinh trùng có tên là coccidia sống và nhân lên trong tế bào vật chủ, thường là trong đường ruột gây ra chủ yếu trên heo con 7-10 ngày tuổi. Biểu hiện chính của heo bệnh thường là tiêu chảy phân màu vàng đến xám sền sệt và chuyển sang lỏng hơn khi nhiễm trùng nặng hơn. Người heo con dính đầy phân lỏng, luôn ẩm ướt và có mùi ôi.
Ứng dụng thực tế: Trường hợp heo con tiêu chảy mà điều trị bằng kháng sinh không thấy hiệu quả → nghi ngờ heo nhiễm cầu trùng.

Vòng đời của cầu trùng
Trứng cầu trùng trong cơ thể heo bệnh theo phân ra ngoài môi trường và phát triển dần thành bào tử rồi thành các kén bào tử. Kén bào tử này có thể vào cơ thể heo và gây bệnh trong vòng 12-24h ở 20-35oC.
Sau khi các bào tử trong kén đi qua miệng heo vào đến ruột non thì tiếp tục phát triển và trải qua 3 giai đoạn để hình thành nên các bào tử mới (như hình dưới).
Ứng dụng thực tế :
3 giai đoạn phát triển của trứng cầu trùng trong ruột heo diễn ra trong vòng từ 5-10 ngày. Sau thời gian đó, heo bắt đầu có các biểu hiện triệu chứng tiêu chảy đầu tiên. Chính bới vậy, Giả sử heo con sơ sinh nhiễm bệnh ngay từ 1 ngày tuổi thì ít nhất phải 5 ngày sau heo mới tiêu chảy những heo con tiêu chảy nhỏ hơn 5 ngày tuổi chắc chắn không phải do mắc bệnh cầu trùng.
Cầu trùng sống và nhân lên trong tế bào vật chủ chủ yếu là tế bào đường ruột → gây tổn thương đường ruột và tiêu chảy.
Vòng đời của cầu trùng trải qua 2 giai đoạn lớn: giai đoạn trong cơ thể heo và giai đoạn ngoài cơ thể heo (trong môi trường sống). Muốn tiêu diệt cầu trùng ta phải tiến hành tiêu diệt 1 trong 2 hoặc cả 2 giai đoạn lớn đó. Tuy nhiên, trứng cầu trùng ngoài môi trường có sức đề kháng rất cao với các thuốc sát trùng nên rất khó tiêu diệt. Bởi vậy, biện pháp phòng bệnh hiệu quả đối với cầu trùng chính là đưa các thuốc đặc trị cầu trùng vào hệ thống tiêu hóa của từng cá thể heo con để tiêu diệt chúng ngay từ trong cơ thể heo.

Các đặc điểm của mầm bệnh
Mầm bệnh cầu trùng heo gồm có 3 loại, loại 1 tên là Isospora, gây bệnh chủ yếu cho heo con từ 7-21 ngày tuổi. Đa phần trong thực tế heo mắc bệnh cầu trùng là do Isospora suis gây ra. Loại 2 tên là Eimeria, heo con từ 1-3 tháng tuổi thường mang mầm bệnh này trong cơ thể nhưng hầu như không có biểu hiện triệu chứng gì ra ngoài. Loại 3 tên là Cryptosporidia hầu như không thấy gây bệnh cho heo.
Sức đề kháng và khả năng gây bệnh: Trứng cầu trùng kháng với hầu hết các loại thuốc sát trùng nên nó có thể tồn tại rất lâu trong môi trường. Điều kiện thích hợp nhất cho mầm bệnh lây nhiễm là từ 20-36oC, là khung nhiệt độ thường gặp trong các ô chuống nái đẻ → điều này lý giải tại sao hầu hết heo con ở các trang trại lại rất dễ dàng mắc cầu trùng nếu không được phòng bệnh ngay từ đầu.
Ứng dụng thực tế: Đối với cầu trùng, chỉ cần quan tâm chủ yếu đến heo con từ 7-21 ngày tuổi. Heo có biểu hiện tiêu chảy sớm nhất là lúc 7 ngày tuổi, nghĩa là khi heo con được 2 ngày tuổi, mầm bệnh đã xâm nhập vào cơ thể heo → ủ bệnh trong ruột non của heo (trải qua 3 giai đoạn) trong 5 ngày → đến 7 ngày tuổi thì heo bị tiêu chảy. Bởi vậy, muốn phòng bệnh cầu trùng hiệu quả, nhất định phải phòng cho heo con lúc 1 hoặc 2 ngày tuổi.

21/05/2016

TƯƠNG QUAN GIỮA TUỔI CỦA NGƯỜI VÀ CHÓ
PGS.TS.LÊ VĂN THỌ
Cố vấn kỹ thuật công ty liên doanh BIO-PHARMACHEMIE
Hiện nay có nhiều người rất quan tâm đến tuổi thọ của thú cưng và đem tuổi thọ thực tế của chó để qui đổi theo tuổi của người, đó là cách làm bình thường, vì sự gần gũi, trung thành của loài chó đối với con người. Nhưng làm thế nào để tính được chính xác tuổi thực tế của loài chó tương đương với bao nhiêu tuổi của người, đó là vấn đề mà hiện nay nhiều người đang tranh luận.
Chúng ta biết rằng tuổi thơ của con chó con sẽ nhanh chóng qua đi để trở thành chó lớn hơn. Giai đoạn này chỉ trải qua vài năm trước khi trưởng thành. Tuổi thọ của loài chó có nhiều thay đổi tùy thuộc vào một số yếu tố như môi trường sống, giống chó, tình trạng bệnh tật, điều kiện vệ sinh, chế độ vận động và dinh dưỡng. Một số giống chó như Spitz và Fox terrier có tuổi thọ dài, có thể sống tới 18-20 năm. Những giống chó khác như chó Boxer và chó German shepherd, chỉ có tuổi thọ khoảng 12-13 năm mà thôi.
Mặc dù con chó nhỏ vóc có xu hướng sống lâu hơn những con chó lớn vóc, nhưng nócó thể trưởng thành một cách nhanh chóng hơn trong vài năm đầu tiên của cuộc sống. Một con chó lớn vóc có thể trưởng thành chậm hơn lúc đầu nhưng đã được coi là “người đứng tuổi” lúc được 5-6 năm tuổi. Giống chó nhỏ vóc chưa thể trở thành "cao niên" cho đến khi được 9 tuổi.
Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng chó 1 năm tuổi thì tương đương với người 7 tuổi. và qui đổi bằng cách nhân tuổi của một con chó với 7 để biết được tuổi tương đương của con người. Cách tính này thật sự không chính xác vì thực tế cho thấy với một con chó 1 năm tuổi là đủ lớn để sinh sản, trong khi một đứa trẻ 7 tuổi thì còn lâu mới đến tuổi sinh sản được.
Bảng sau đây cho thấy mối liên quan giữa tuổi chó và tuổi người có thể chấp nhận được bằng cách lấy tuổi của chó nhân với hệ số (thay đổi theo giai đoạn) để tìm ra tuổi tương đương của con người (theo Gino Pugnetti, 1994).
Tuổi của chó Hệ số Tuổi của người
2 tháng 7 14 tháng
6 tháng 10 5 tuổi
8 tháng 12,5 9 tuổi
12 tháng 14 14 tuổi
18 tháng 13,3 20 tuổi
2 năm 12 24 tuổi
3 năm 10 30 tuổi
4 năm 9 36 tuổi
5 năm 8 40 tuổi
6 năm 7 42 tuổi
7 năm 7 49 tuổi
8 năm 7 56 tuổi
9 năm 7 63 tuổi
10 năm 6,5 65 tuổi
11 năm 6,5 71 tuổi
12 năm 6,3 75 tuổi
13 năm 6,2 80 tuổi
14 năm 6 84 tuổi
15 năm 5,8 87 tuổi
16 năm 5,6 89 tuổi
Tuy nhiên, thể vóc và độ lớn của các giống chó có khác nhau, vì vậy mà người ta chia ra 3 nhóm chó:
đó là nhóm chó nhỏ vóc (dưới 9kg),
nhóm chó trung bình (>9kg và 20kg).
Mỗi nhóm chó có tuổi thọ trung bình khác nhau, qua đó chúng ta cũng có thể tham khảo đồ hình bên dưới (Theo Blue Ridge Veterinary Services, 2013) để qui đổi tuổi của chó ra tuổi của người theo từng nhóm chó vừa nêu ở trên.
Dù là cách tính nào cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối và có một vài sự khác biệt nhỏ giữa các tác giả đề xuất ra phương pháp qui đổi, nhưng chắc chắn một điều là người nuôi thú cưng cũng sẽ hài lòng với hai cách tính vừa nêu.
Tóm lại, để cho thú cưng luôn khỏe mạnh, người nuôi nên quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng, đối với những con chó bị còi cọc, chậm lớn hoặc trong thời gian điều trị bệnh, nên cho ăn thêm chế phẩm BIO-MILK FOR PET để chó mau hồi phục. Tiêm ngừa đầy đủ các bệnh truyền nhiễm, xổ giun định kỳ với thuốc BIO- RANTEL hoặc BIVERMECTIN 0,1% , bảo vệ bộ lông luôn mượt mà và không bị bệnh về da do ngoại ký sinh trùng thì nên dùng dầu tắm BIO- SHAMPOO 1…đó là cách hiệu quả nhất để duy trì sức khỏe tốt và kéo dài tuổi thọ cho thú cưng của mình.

27/06/2014

Chẩn đoán bệnh
1.1. Nguyên nhân gây bệnh
1.1.1. Khái niệm
Nguyên nhân gây bệnh rất đa dạng và phức tạp. Có những nguyên nhân thuộc về di truyền, nguyên nhân do chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn uống không đúng khoa học, hoặc do các nhân tố vật lý, hóa học, vi sinh vật, cũng có trường hợp xảy ra do kế phát các bệnh khác.
1.1.2. Phân loại nguyên nhân
1.1.2.1. Nhóm nguyên nhân do mầm bệnh
a/ Do vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm vi khuẩn, virus, nấm.
Bệnh gây ra do vi sinh vật thường lây lan nhanh, gây thiệt hại lớn về kinh tế.
b/ Do ký sinh trùng
Ký sinh trùng gồm hai nhóm nội ký sinh và ngoại ký sinh.
1.1.2.2. Nhóm nguyên nhân do các yếu tố khác
a/ Do chất độc
Ăn phải cây, cỏ độc
Bị rắn độc, nhện độc cắn
Do ăn phải hóa chất độc
Do uống phải nguồn nước bị nhiễm độc
b/ Do nuôi dưỡng, chăm sóc và sử dụng
Do nuôi dưỡng kém như thiếu thức ăn hay thành phần dinh dưỡng không cân đối,…
Do chăm sóc kém: chăm sóc không chu đáo, không cẩn thận như chuồng trại chật hẹp, quá dơ hay ẩm ướt, quá nóng hay quá lạnh,…
Do sử dụng không hợp lý: bắt làm việc quá sức, không có thời gian nghỉ ngơi đầy đủ,…
c/ Do thời tiết bất lợi: thời tiết quá lạnh hay quá nóng đều ảnh hưởng đến vật nuôi.
d/ Cơ học
1.2. Triệu chứng bệnh
1.2.1. Khái niệm
Một quá trình bệnh lý có thể gây ra những rối loạn về cơ năng hay làm thay đổi về hình thái của các khí quan, bộ phận trong cơ thể. Những biểu hiện của rối loạn đó được gọi là triệu chứng. Vì vậy có thể hiểu triệu chứng là những rối loạn bệnh lý do nguyên nhân gây bệnh gây ra.
Triệu chứng xuất hiện khi nguyên nhân gây bệnh đủ sức làm rối loạn sự hoạt động bình thường của cơ thể.
1.2.2. Phân loại triệu chứng
1.2.2.1. Triệu chứng đặc thù là triệu chứng chỉ có ở một bệnh nào đó. Khi gặp triệu chứng ấy thì chẩn đoán ngay được bệnh đó. Triệu chứng đặc thù chỉ có ở một số bệnh, không phải bệnh nào cũng có triệu chứng đặc thù.
Ví dụ: các dấu đỏ có hình đa giác ở trên da lợn trong bệnh đóng dấu son là triệu chứng đặc thù.
1.2.2.2. Triệu chứng chủ yếu và triệu chứng thứ yếu: khi con vật bị bệnh có thể có nhiều triệu chứng. Trong đó, một số triệu chứng thường gặp, những triệu chứng này được gọi là triệu chứng chủ yếu. Một số triệu chứng khác ít gặp gọi là triệu chứng thứ yếu.
Ví dụ khi con vật bị bệnh đường hô hấp thường có các triệu chứng chủ yếu là ho, khó thở,… có thể có các triệu chứng thứ yếu là rối loạn tiêu hóa, bỏ ăn,…
1.2.2.3. Triệu chứng điển hình và triệu chứng không điển hình:
Triệu chứng điển hình là triệu chứng phản ánh quá trình phát triển điển hình của bệnh. Thông qua triệu chứng này chúng ta có thể xác định giai đoạn tiến triển của bệnh.
Triệu chứng không điển hình là triệu chứng không hoàn toàn theo quy luật phát triển của bệnh.
1.2.2.4. Triệu chứng cố định và triệu chứng ngẫu nhiên:
Triệu chứng cố định là triệu chứng thường có trong một số bệnh.
Triệu chứng ngẫu nhiên là triệu chứng có lúc xuất hiện, có lúc không xuất hiện trong một số bệnh.
1.2.2.5. Triệu chứng trường diễn và triệu chứng nhất thời:
Triệu chứng trường diễn là triệu chứng xuất hiện trong suốt quá trình bệnh. Ví dụ trong bệnh viêm phế quản, con vật ho suốt quá trình bệnh.
Triệu chứng nhất thời chỉ xuất hiện trong một giai đoạn tiến triển của bệnh.
1.2.2.6. Hội chứng là nhiều triệu chứng xuất hiện chồng lên nhau. Ví dụ chứng urea huyết là hội chứng
1.2.3. Các phương pháp tìm triệu chứng
1.2.3.1. Các phương pháp khám cơ bản
Phương pháp khám cơ bản gồm phương pháp quan sát, sờ nắn, gõ và nghe. Các phương pháp khám này được gọi là phương pháp khám cơ bản vì nó được sử dụng để khám tất cả các loại vật bệnh và chỉ sau khi qua các phương pháp khám này người khám mới quyết định các biện pháp tiếp theo để chẩn đoán bệnh.
a/ Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp khám bệnh đơn giản nhưng hiệu quả cao, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng. Bằng phương pháp quan sát có thể xác định được trạng thái vật nuôi, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc, các triệu chứng bệnh. Đồng thời quan sát cũng giúp chúng ta đánh giá chất lượng đàn vật nuôi, sàng lọc những con có nghi vấn mắc bệnh.
Khi quan sát tùy theo mục đích, vị trí nhìn, cần đứng xa hay gần con vật. Tuy nhiên, nên quan sát từ xa tới gần, từ tổng quát tới bộ phận.
Quan sát toàn thân là quan sát trạng thái, thái độ, cử chỉ, cử động, tình trạng dinh dưỡng, dáng điệu,… của vật bệnh.
Quan sát cục bộ là quan sát lần lượt từ trước ra sau, từ trái qua phải, lần lượt các cơ quan bộ phận để phát hiện những thay đổi bất thường nếu có.
Nên quan sát khi đủ ánh sáng. Nếu thiếu ánh sáng có thể sử dụng ánh sáng đèn điện hay đèn chiếu. cần quan sát đối chiếu, so sánh giữa 2 bộ phận tương ứng của con vật và cần so sánh giữa cơ quan tổ chức bệnh với cơ quan tổ chức lành để thấy được những biến đổi bất thường.
b/ Phương pháp sờ nắn
Sờ nắn là phương pháp dùng cảm giác của ngón tay, bàn tay để kiểm tra chổ khám, xác định thân nhiệt, độ ẩm, trạng thái,… và sự mẫn cảm của cơ thể vật nuôi. Sờ nắn cũng biết được cảm giác đau của con vật. Qua sờ nắn người khám còn xác định được tình trạng mạch của gia súc, khám qua trực tràng. Sờ nắn có 2 cách:
Sờ nắn nông là việc sờ nắn những cơ quan bộ phận nông để biết được nhiệt độ, độ ẩm của da, lực căng cơ,…
Sờ nắn sâu là để khám các khí quan, tổ chức sâu bên trong cơ thể vật nuôi.
Khi sờ nắn kiểm tra các cơ quan, tổ chức cơ thể vật nuôi, có thể nhận biết các trạng thái sau:
Dạng rất cứng như sờ nắn xương
Dạng cứng như sờ nắn gan, thận
Dạng bột nhão: cảm giác mềm như bột
Dạng ba động: khi sờ có cảm giác lùng nhùng di động, ấn giữa thì lỏm xuống. Ví dụ các tổ chức mưng mủ.
Dạng khí thủng: sờ vào có cảm giác mềm, chứa đầy khí.
Tuy nhiên, để sờ nắn có hiệu quả cao đòi hỏi người khám phải nắm vững vị trí giải phẫu và có kinh nghiệm trong chẩn đoán.
c/ Phương pháp gõ
Gõ là phương pháp khám bệnh dựa trên cơ sở là âm hưởng, âm thanh do các vật thể chấn động tạo ra. Các vật thể khác nhau, ở trong các trạng thái khác nhau, khi gõ sẽ cho các âm thanh khác nhau. Các cơ quan, tổ chức trong cơ thể có cấu tạo và tính chất khác nhau nên khi gõ sẽ phát ra các âm thanh khác nhau. Trong trạng thái bệnh lý, các cơ quan tổ chức cũng thay đổi về tính chất, do đó âm phát ra khi gõ cũng thay đổi.
Kỹ thuật gõ
Gõ trực tiếp: dùng ngón trỏ và ngón giữa của tay thuận gõ theo phương vuông góc với bề mặt của cơ quan , tổ chức cần khám. Với cách gõ này lực gõ không lớn, âm phát ra nhỏ, thường áp dụng với gia súc nhỏ.
Gõ gián tiếp: là phương pháp gõ qua một vật trung gian. Gõ qua ngón tay: dùng ngón giữa và ngón trỏ tay trái đặt sát lên bề mặt cơ quan, tổ chức cần khám, ngón giữa và ngón trỏ của tay phải gõ lên vuông góc với 2 ngón của tay trái. Phương pháp này thường áp dụng để khám cho các loài gia súc nhỏ như dê, cừu, chó, mèo. Gõ bằng búa gõ qua bản gõ: búa gõ có khối lượng và kích thước khác nhau tùy theo vóc dáng của gia súc. Gia súc nhỏ dùng loại búa có trọng lượng từ 60-75 gam, gia súc lớn dùng loại búa 120-160 gam. Bản gõ và búa gõ được làm cùng loại vật liệu, có thể bằng gỗ, sừng, nhựa hay kim loại. Bản gõ có dạng hình vuông, hình bầu dục hay hình chữ nhật,…sao cho thuận tiện, dễ thao tác, áp sát được vào thân con vật. Cách gõ: tay trái cầm bản gõ, đặt sát lên bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám. Tay phải cầm búa gõ, gõ dứt khoát từng tiếng một. lực gõ mạnh hay nhẹ phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức gõ lớn hay bé, ở nông hay sâu. Khi gõ mạnh các chấn động có thể lan 4-6cm và sâu đến 7 cm. còn nếu gõ nhẹ các chấn động lan 2-3cm và sâu 4 cm.
Khi gõ nên để gia súc nơi yên tĩnh, không có tạp âm bên ngoài để tránh làm lẫn tạp với âm gõ.
Những âm gõ
Âm trong: âm này vang mạnh, âm hưởng kéo dài. Ví dụ khi gia súc khỏe, nếu gõ vùng phổi thì âm phát ra là âm trong.
Âm đục: âm có tiếng vang yếu và ngắn. Ví dụ khi gõ vùng gan hoặc vùng có cơ bắp dày.
Âm đục tương đối là âm phát ra khi gõ vùng rìa phổi, vùng quanh tim,…
Âm trống là những âm to nhưng không vang. Ví dụ khi gõ vào vùng trên dạ cỏ.
d/ Phương pháp nghe
Nghe là phương pháp dùng tai hoặc dụng cụ chuyên dùng để nghe âm phát ra từ các cơ quan, bộ phận của cơ thể để biết được trạng thái và sự hoạt động của các cơ quan, bộ phận đó. Có 2 phương pháp nghe:
Nghe trực tiếp là dùng tai áp sát vào cơ thể vật nuôi để nghe. Người nghe có thể dùng miếng vải hoặc miếng khăn sạch phủ lên vùng cần nghe để giữ vệ sinh. Khi nghe phần ngực vật nuôi thì người khám quay mặt về phía đầu vật nuôi. Còn khi nghe phần bụng của vật nuôi thì ngườ nghe quay mặt về phía sau của con vật. Khi nghe tay phía bên trong của người nghe đặt lên sống lưng của con vật.
Nghe gián tiếp là phương pháp nghe qua ống nghe. Hiện nay người ta thường dùng ống nghe 2 loa, có độ phóng đại âm thanh lớn, sử dụng thuận lợi nhưng dễ lẫn tạp âm, làm tính chất âm thay đổi.
Điều kiện nghe
Để vật nuôi nơi yên tĩnh, tránh gió to, con vật phải đứng ở tư thế thoải mái.
Nghe từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, ở mỗi vị trí nghe đủ lâu để xác định rõ âm thanh nghe được.
Khi nghe phải có sự so sánh đối chiếu giữa 2 bên.
1.2.3.2. Các phương pháp khám đặc biệt
Trong trường hợp các phương pháp khám cơ bản không thể đưa ra những kết luận chẩn đoán chính xác hoặc cần phải có thêm căn cứ để kết luận về bệnh thì việc sử dụng các phương pháp khám đặc biệt là cần thiết.
Xét nghiệm gồm xét nghiệm máu, phân, nước tiểu, sữa,…
X-quang là những phương pháp dùng tia Rơnghen để khám xét các cơ quan, tổ chức bên trong cơ thể. Gồm có:
Phương pháp chụp X-quang
Phương pháp chiếu X-quang
Siêu âm là những sóng âm có tần số cao hơn 20000Hz.
Nội soi: dùng để chẩn đoán bệnh nhất là bệnh ở đường tiêu hóa. Ngày nay người ta áp dụng nội soi điều trị để thay thế một số phẫu thuật thường quy.
Sinh thiết là phương pháp lấy bệnh phẩm tổ chức trên cơ thể động vật còn sống để tiến hành các biện pháp xét nghiệm cung cấp thêm cơ sở cho chẩn đoán. Sinh thiết thường được áp dụng sau khi đã tiến hành các phương pháp khám khác nhưng chưa đưa ra được kết quả chính xác. Người ta thường tiến hành sinh thiết gan, sinh thiết thận, sinh thiết dạ dày,…
1.2.3.3 Hỏi bệnh
Mục đích
Mục đích giúp người làm công tác thú y định hướng cho công tác khám bệnh và chẩn đoán, giúp chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác.
Nội dung
Hỏi thông tin về con vật bệnh
Nguồn gốc vật nuôi: giống, xuất xứ,..
Tuổi
Tính biệt
Tình trạng hiện tại của vật nuôi: còn ăn hay bỏ ăn,phân, nước tiểu, ói, ho…
Hỏi về biểu hiện của bệnh
Bệnh xảy ra khi nào
Tiến triển của bệnh nhanh hay chậm
Những biểu hiện của vật bệnh
Có con chết không; số lượng chết
Bệnh đã từng xảy ra chưa
Có loài vật nuôi nào khác trong nhà bị bệnh nữa không
Vật nuôi ở những nhà lân cận có bị bệnh này không
Qua đây chúng ta có thể biết được mức độ bệnh nặng hay nhẹ, thể bệnh, mức độ lây lan,…
Hỏi thông tin về môi trường xung quanh
Thức ăn, nước uống: cho vật nuôi ăn thức ăn gì; Có thay đổi thức ăn không; Thức ăn cho ăn có đủ không; Cách cho ăn; Nước uống thế nào,…
Phương thức chăn nuôi
Chuồng nuôi; Mật độ nuôi
Có nhập đàn vật nuôi mới không
Có khách tham quan không
Qua các thông tin trên chúng ta có thể định hướng nguyên nhân gây bệnh,…
Tác động của chủ vật nuôi
Đã tiêm phòng vaccine cho vật nuôi chưa; Tên vaccine; Ai tiêm; Tiêm khi nào
Có cách ly vật bệnh không
Có điều trị bằng thuốc chưa; Thuốc gì; Ai thực hiện; Liều lượng, liệu trình thế nào,…
Qua đây có thể định hướng cho việc chẩn đoán và điều trị
1.3. Chẩn đoán bệnh
1.3.1. Khái niệm
Chẩn đoán là phán đoán bệnh thông qua các triệu chứng.
Một chẩn đoán phải chú ý đến các nội dung như:
Vị trí bệnh biến trong cơ thể: bệnh ở gan, tim, phổi hay thận ...
Tính chất của những thay đổi đó: viêm, áp xe, phù hay hoại tử; xung huyết, xuất huyết, tụ huyết, nhồi huyết, bệnh kế phát, bội nhiễm hay tái phát.
Hình thức, mức độ những rối loạn chức năng: phổi viêm ở các thời kỳ gan hóa hay nhục hóa, ổ viêm thuộc dạng viêm loét hay viêm tăng sinh...
Nguyên nhân gây bệnh: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng, độc chất, chấn thương, môi trường.
Một quá trình bệnh lý thường rất phức tạp. Do vậy, để kết quả chẩn đoán chính xác và hoàn thiện, khi tiến hành chẩn đoán cần khám kỹ càng, phân tích nhiều mặt, tiến hành nhiều khâu. Kết hợp khám cơ bản và xét nghiệm chuyên biệt. Kết luận chẩn đoán không phải là bất di bất dịch mà có thể thay đổi theo quá trình bệnh vì chẩn đoán nhiều mặt, nhiều giai đoạn mới phản ánh đầy đủ quá trình bệnh.
1.3.2. Phân loại chẩn đoán
Dựa vào phương pháp hay thời gian chẩn đoán mà ta có các loại chẩn đoán sau:
1.3.2.1. Theo phương pháp chẩn đoán
Chẩn đoán trực tiếp
Là chẩn đoán căn cứ vào các triệu chứng điển hình của bệnh. Nghĩa là cách này chỉ có kết quả khi quá trình bệnh lý của một bệnh nào đó xuất hiện triệu chứng điển hình. Ví dụ, tiếng thổi tâm thu trong bệnh hẹp lỗ nhĩ thất tim, xuất huyết trên da lợn hình vuông tròn trong bệnh đóng dấu.
Chẩn đoán phân biệt
Với những triệu chứng phát hiện thấy trên con vật bệnh, liên hệ đến các bệnh khác có cùng một số triệu chứng, rồi loại dần các điểm không phù hợp. Cuối cùng còn lại một bệnh có nhiều khả năng nhất là bệnh mà gia súc đang mắc. Ví dụ: chẩn đoán phân biệt các bệnh sau:
Bệnh xung huyết phổi và viêm phổi: hai bệnh trên đều có triệu chứng giống nhau là khó thở nhưng trong bệnh xung huyết phổi thì con vật không sốt. Ngược lại trong bệnh viêm phổi thì con vật sốt.
Bệnh viêm ruột thể cata và viêm ruột: viêm ruột thể cata thì con vật không sốt. Nhưng viêm ruột thì con vật sốt cao.
Viêm phổi thùy và viêm phổi - phế quản: viêm phổi phế quản sốt theo kiểu lên xuống, còn viêm phổi thùy thì sốt liên miên.
Chẩn đoán phân biệt 4 bệnh đỏ của lợn (học trong bệnh truyền nhiễm).
Chẩn đoán sau một thời gian theo dõi
Có nhiều bệnh triệu chứng không điển hình, sau khi khám không thể kết luận được bệnh
và phải tiếp tục theo dõi, phát hiện thêm các triệu chứng mới đủ căn cứ để chẩn đoán bệnh.
Chẩn đoán theo kết quả điều trị
Với những trường hợp mà triệu chứng lâm sàng gần giống nhau, sau khi khám rất khó kết luận bệnh này hay bệnh khác. Do đó cần điều trị một trong số bệnh đó và theo kết quả mà rút ra chẩn đoán. Ví dụ chẩn đoán bệnh dịch tả lợn và tụ huyết trùng lợn sau khi điều trị; chẩn đoán bệnh đóng dấu lợn và tụ huyết trùng lợn sau khi điều trị.
1.3.2.2. Theo thời gian chẩn đoán
Chẩn đoán sớm
Là chẩn đoán mà kết luận bệnh thực hiện được ở ngay thời kỳ đầu của quá trình bệnh lý. Chẩn đoán sớm là mục đích của người làm công tác thú y vì nó sẽ giải quyết được các vấn đề về phòng và điều trị bệnh hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế.
Chẩn đoán muộn
Là chẩn đoán mà ta chỉ có thể kết luận được bệnh ở giai đoạn cuối của quá trình bệnh, thậm chí khi gia súc đã chết, mổ khám mới có kết luận bệnh.
1.3.2.3. Chẩn đoán theo mức độ chính xác
Chẩn đoán sơ bộ
Là kết luận bệnh sau khi khám sơ bộ. Đây là cơ sở cho những phương pháp điều trị. Chẩn đoán sơ bộ còn nhiều nghi vấn, phải tiếp tục theo dõi để bổ sung thêm để chẩn đoán được chính xác.
Chẩn đoán cuối cùng
Là kết luận chẩn đoán sau khi áp dụng nhiều phương pháp như khám, xét nghiệm hoặc thông qua kết quả điều trị.
Chẩn đoán nghi vấn
Là kết luận chẩn đoán tạm thời, đưa ra khả năng có thể khi gặp các trường hợp bệnh lý có triệu chứng mập mờ, diễn biến phức tạp. Cần phải theo dõi kỹ diễn biến của bệnh và kết quả điều trị để có kết luận chính xác hơn.
1.4. Các thời kỳ của một bệnh
Điển hình một bệnh cụ thể gồm 5 thời kỳ, mặc dù nhiều khi thiếu một thời kỳ nào đó.
- Thời kỳ ủ bệnh (tiềm tàng): thời kỳ ủ bệnh dài hay ngắn tùy thuộc từng mầm bệnh và sức khỏe của vật nuôi. Ở giai đoạn này không có biểu hiện lâm sàng nào nhưng ngày nay bằng
các biện pháp hiện đại, nhiều bệnh đã được chẩn đoán ngay từ thời kỳ này. Nhiều bệnh quá cấp tính do các tác nhân quá mạnh, có thể không có thời kỳ này (chết do bỏng, điện giật, mất máu quá lớn, các bệnh ở thể quá cấp tính,...). Hiểu biết về giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc cách ly, nhập đàn; tiêm chủng vaccine,…
- Thời kỳ tiền phát: xuất hiện một số triệu chứng đầu tiên (khó chẩn đoán chính xác). Ở thời kỳ này xét nghiệm có vai trò rất lớn.
- Thời kỳ toàn phát: xuất hiện triệu chứng đầy đủ và điển hình nhất. Tuy nhiên vẫn có những thể không điển hình.
- Thời kỳ bệnh lui: mầm bệnh trong cơ thể dần tới không.
- Thời kỳ hồi phục: thời kỳ này cơ thể rất yếu, cần nhiều nguyên liệu để xây dưng và hồi phục lại cơ thể. Chú ý trong việc cung cấp chất dinh dưỡng và cách cung cấp chất dinh dưỡng cho vật nuôi.
Tuy nhiên, nhiều bệnh hoặc nhiều thể bệnh có thể thiếu một hay hai thời kỳ nào đó.
1.5. Các thể bệnh
1.5.1. Thể quá cấp tính
Bệnh diễn tiến rất nhanh, có khi chỉ trong vài giờ là vật nuôi đá chết. Thường do mầm bệnh có độc lực cao, con vật mới tiếp xúc với bệnh nên chưa có miễn dịch về bệnh. Ở thể này không có giá trị về chẩn đoán hay điều trị.
1.5.2. Thể cấp tính
Bệnh diễn tiến nhanh, nhưng diễn tiến qua các giai đoạn tiến triển của bệnh, bệnh kéo dài vài ngày đến vài tuần. Ở thể này bệnh thể hiện rõ triệu chứng ra bên ngoài, kể cả triệu chứng không điển hình.
1.5.3. Thể mạn tính
Do con vật mắc thể cấp tính chuyển sang hay mầm bệnh có độc lực yếu. bệnh thường kéo dài, triệu chứng chung không thể hiện rõ. Ở thể này thường khó chẩn đoán và điều trị.
1.6. Tiên lượng
1.6.1. Khái niệm
Tiên lượng là sự phán đoán về tương lai của bệnh như: bệnh còn kéo dài bao lâu, những bệnh nào có thể kế phát, con vật sống hay chết, có khỏi hoàn toàn không, khả năng khai thác, sản xuất của con vật sau khi khỏi như thế nào (giá trị kinh tế).
Một tiên lượng chính xác đòi hỏi phải suy xét nhiều yếu tố, kết hợp chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán phòng thí nghiệm. Chẩn đoán là kết luận hiện tại, tiên lượng là kết luận cho tương lai.
1.6.2. Phân loại tiên lượng
Có thể có 3 kết luận về tiên lượng:
Tiên lượng tốt: là con vật khỏi bệnh, có khả năng phục hồi hoàn toàn về chức năng, vẫn còn giá trị về kinh tế.
Tiên lượng xấu: là gia súc sẽ chết, hoặc có thể sống nhưng không khỏi hoàn toàn, mất khả năng sản xuất và sinh sản nếu điều trị khỏi cũng tốn kém, mất nhiều thời gian.
Tiên lượng nghi ngờ: là trường hợp bệnh biến phức tạp, triệu chứng rất mập mờ không thể kết luận được bệnh và xác định tiên lượng.

27/06/2014

BỆNH THƯƠNG HÀN Ở GÀ
(Typhus avium - Avian Salmonellosis)

Đây là bệnh truyền nhiễm ở gà do vi khuẩn Salmonella gallinarum pullotum gây ra.
Bệnh thường xảy ra ở thể cấp tính ở gà con và thể mãn tính ở gà lớn.
Đặc điểm của bệnh là viêm, hoại tử niêm mạc đường tiêu hóa và các cơ quan phủ tạng.
1. LỊCH SỬ VÀ ĐỊA DƯ BỆNH LÝ
Lịch sử
Lần đầu tiên ở Anh, Klein đã ghi nhận những trận dịch lớn xảy ra ở gà.
1900, Rettger (Mỹ) phân lập và định type mầm bệnh.
Lúc đầu người ta chia bệnh thành 2 bệnh:
- Bệnh thương hàn gà lớn (Typhus avium)
- Bệnh lỵ gà con (Pullorosis avium).
Ngày nay người ta chứng minh mầm bệnh bạch lỵ và bệnh thương hàn có những đặc điểm hình thái tính chất gây bệnh, tính chất nuôi cấy rất giống nhau nên được xếp chung một loài Salmonella và gọi tên chung là thương hàn gà.
Địa dư bệnh lý
Bệnh thương hàn gà có ở tất cả các nước trên thế giới. Bệnh gây thiệt hại đáng kể trên gà nuôi tập trung.
Ở Việt Nam bằng những kiểm tra huyết thanh học cho thấy các đàn gà đều nhiễm bệnh ở những mức độ khác nhau.
2. TRUYỀN NHIỄM HỌC
Mầm bệnh
Bệnh do vi khuẩn Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum, gọi chung là Salmonella gallinarum pullorum.

Trực khuẩn nhỏ, gram âm, có những đặc điểm chung của vi khuẩn họ
salmonella nhưng chúng không có lông nên không di động.
Trong tự nhiên vi khuẩn có sức đề kháng cao, trong phân vi khuẩn có thể sống 3 tháng, trong đất, nền chuồng vi khuẩn sống 2 năm nhưng vi khuẩn lại có sức đề kháng kém với nhiệt độ và chất sát trùng: Ở 55oC vi khuẩn bị tiêu diệt sau 20 phút.
Các chất sát trùng thông thường như sud, acid phenic, formol tiêu diệt căn bệnh nhanh chóng.
Loài vật cảm thụ:
Gà, gà tây, ngỗng, ngan, các loài chim hoang đều có thể mắc.
Trong phòng thí nghiệm người ta dùng thỏ để tiêm truyền.
Cách lây lan
- Lây trực tiếp:
Gà mẹ mắc bệnh truyền căn bệnh cho trứng, gà trống mắc bệnh làm trứng thụ tinh bị nhiễm bệnh.
Gà trống mắc bệnh làm lây bệnh cho gà mái qua giao phối.
- Lây gián tiếp: qua đường tiêu hóa.
Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết làm cho lách sưng, viêm ruột và xuất huyết, một số gà bị chết trong giai đoạn này (gà con).
Một số gà còn lại trở nên mang trùng hoặc có thể lành triệu chứng nhưng trong phủ tạng có bệnh tích viêm mãn tính, bài xuất mầm bệnh ra ngoài theo phân và truyền căn bệnh cho bào thai, bệnh có thể chuyển thành cấp tính nếu vì nguyên nhân nào đó làm sức đề kháng của cơ thể giảm sút như lạnh đột ngột, mệt do vận chuyển, thay đổi thức ăn đột ngột,...Trong trường hợp này buồng trứng hoặc dịch hoàn, gan, lách gà bệnh viêm hoại tử nặng. Niêm mạc và một số phủ tạng có thể bị xuất huyết.
3. TRIỆU CHỨNG
Thời gian nung bệnh từ vài ngày đến vài tuần.
Thể cấp tính
Một số lớn trứng gà mang trùng đến ngày nở, gà con không làm vỡ được vỏ trứng để chui ra nên bị chết ngạt.

Trứng nhiễm bệnh có thể bị chết phôi, thai chết trước khi nở, số còn lại nở ra ốm yếu và phát bệnh ngay sau đó.
Gà bệnh ốm yếu, trọng lượng thấp, bụng trễ xuống do lòng đỏ không tiêu
nhưng nếu bệnh nặng kéo dài 1¸ 2 tuần, trong trường hợp này con vật suy yếu trầm
trọng, viêm ruột nặng thở khó dần rồi chết.
Thể mãm tính.
Gà gầy yếu, ủ rũ, xù lông.
Niêm mạc và mào, yếm nhợt nhạt do thiếu máu, bụng tích nước trương to, tiêu chảy, phân có màu trắng bết ở hậu môn.
Gà mái giảm đẻ, vỏ trứng xù xì, lòng đỏ có máu.
Ở gà lớn đôi khi bệnh cũng xảy ra ở thể cấp tính (nhiễm trùng huyết), gà đột nhiên ủ rũ bỏ ăn, tiêu chảy nặng và có thể chết đột ngột do viêm các phủ tạng trong cơ thể.
4. BỆNH TÍCH
Ở gà con
Gà con chết lòng đỏ vẫn chưa tiêu, có màu vàng xám, hôi thối, đây là bệnh tích đặc trưng của bệnh.
Lách sưng to gấp 2¸ 3 lần so với bình thường.
Ruột tụ máu hoặc xuất huyết cùng với sự tích tụ dịch xuất lẫn fibrin.
Bệnh nặng niêm mạc ruột loét trực tràng hoại tử.
Nếu bệnh kéo dài cơ tim, phổi, gan lách có những nốt hoại tử màu vàng xám, to nhỏ không đều.
Một số gà bị viêm khớp, thường là khớp đầu gối.
Ở gà lớn
Xác gầy cồm, viêm hoại tử mãn tính ở các cơ quan phủ tạng.
Gan sưng, trên bề mặt gan có những nốt hoại tử to nhỏ không đều, cơ tim, phổi, mề ruột hoại tử.
Viêm bao tim, bao tim dầy lên trong bao tim chứa dịch thẩm xuất có fibrin.
Lách sưng to gấp 2¸ 3 lần, ruột viêm hoại tử loét ở quay tá tràng thành từng vệt trên niêm mạc.
Buồng trứng méo mó, dị hình có màu vàng nâu, xanh đen.
Viêm buồng trứng dẫn đến viêm phúc mạc làm cho ruột, ống dẫn trứng và thành bụng dính lại với nhau.
Xoang bụng có nhiều dịch viêm và fibrin.
Một số con viêm khớp mãn tính.
Ở gà trống có những nốt hoại tử to nhỏ ở dịch hoàn.
5. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán lâm sàng
Bệnh xảy ra ở thể cấp tính ở gà con, thể mãn tính ở gà lớn.
Triệu chứng tiêu chảy, phân có màu trắng, bụng trễ xuống, mào, yếm nhợt nhạt, viêm khớp.
Bệnh tích: viêm loét ở ruột, hoại tử ở các cơ quan phủ tạng: gan, tim, dạ dày, cơ không có bệnh tích viêm ở phổi, lách sưng to.
Cần phân biệt với: bệnh cầu trùng, nấm phổi, bệnh lao.
Chẩn đoán vi khuẩn học
Lấy máu gà bệnh hoặc phủ tạng cấy vào môi trường tăng sinh kiểu Mule -
Kopman hoặc các loại môi trường khác rồi làm phản ứng sinh hóa và tiêm động vật thí nghiệm (thỏ).
Chẩn đoán huyết thanh học
- Phản ứng ngưng kết.
- Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch.
6. PHÒNG BỆNH
Chủ yếu là vệ sinh phòng bệnh.
- Khi chưa có bệnh xảy ra
Gà, trứng phải mua từ trại không có bệnh.
Gà mới mua về phải cách ly và theo dõi.
Sát trùng máy ấp và trứng ấp.
Cách ly gà con và gà lớn.
Định kỳ kiểm tra máu gà, những đàn có tỷ lệ nhiễm > 20% không được giữ làm giống.
Trộn kháng sinh hoặc sulfamid vào thức ăn hay nước uống.
- Khi có dịch xảy ra.

Nếu có bệnh xảy ra ở gà con với số lượng ít, tốt nhất nên loại thải cả đàn để loại trừ nguồn truyền nhiễm.
Nếu bệnh xảy ra ở đàn gà có số lượng lớn, nên loại bỏ những con nặng, điều trị những con còn lại để hạn chế tổn thất về kinh tế. Những gà này chỉ được phép nuôi lấy thịt.
7. ĐIỀU TRỊ
Hiệu quả không cao, gà khỏi bệnh thường hay mang trùng.
Dùng các dẫn xuất của Sulfamid 0,2¸ 0,5% trộn trong thức ăn hay pha trong nứơc uống.
Hoặc có thể dùng các kháng sinh khác như terramycin, Collistin, imequil,
pulmequil, furazolidon,…

Address

Nông Dân
Hanoi
1

Telephone

0904797413

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BÁC SỸ THÚ Y posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category