Cám Siêu Tăng Trưởng Vật Nuôi Green Free

Cám Siêu Tăng Trưởng Vật Nuôi Green Free VỖ BÉO VẬT NUÔI SỐ 1 VIỆT NAM – GREEN FREE
Xuất chuồng sớm 25-30 ngày
Tiết ki?

💥Vỗ béo vật nuôi   - Vỗ béo số 1 Việt Nam ⭐️Rút ngắn thời gian chăn nuôi 25-30 ngày☘️Giảm thiểu chi phí vốn lên đến 30%-...
23/11/2021

💥Vỗ béo vật nuôi - Vỗ béo số 1 Việt Nam
⭐️Rút ngắn thời gian chăn nuôi 25-30 ngày
☘️Giảm thiểu chi phí vốn lên đến 30%
-----------------------------
🔴Có đầy đủ sản phẩm cho gia cầm, gia súc và thủy cầm
-> Tăng 30% Hiệu quả chăn nuôi
-> Vỗ béo từ 30 - 50 ngày
-> Rút ngắn 1/3 thời gian chăn nuôi
-> Vỗ béo cực nhanh chỉ sau 5 ngày sử dụng
Nhà máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội
MIỄN PHÍ VẬN CHUYỂN toàn quốc, kiểm tra hàng trước khi thanh toán

Người nuôi bồ câu chật vật tìm đầu ra22/10/2021Dễ nuôi, năng suất cao, nuôi chim bồ câu Pháp đã mở ra cho người dân ở hu...
23/11/2021

Người nuôi bồ câu chật vật tìm đầu ra
22/10/2021
Dễ nuôi, năng suất cao, nuôi chim bồ câu Pháp đã mở ra cho người dân ở huyện Phú Lương hướng làm kinh tế mới. Nhưng thời gian qua, việc tiêu thụ khó khăn..
Tiếp cận nuôi bồ câu công nghiệp
Thành lập từ tháng 3/2020, HTX Chăn nuôi và Dịch vụ tổng hợp Phú Lương (xóm Ao Sen, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, Thái Nguyên) có 7 thành viên. Sản phẩm chính của HTX là chim bồ câu Pháp thương phẩm với tổng đàn khoảng 8.000 đôi chim bố mẹ, trung bình xuất ra thị trường khoảng 6.000 con chim thương phẩm/tháng.
Được huyện quan tâm hỗ trợ số kinh phí trên 370 triệu đồng và có sự đồng hành của Phòng NN-PTNT huyện nên ngay từ khi bắt đầu thành lập HTX, các hộ thành viên đã có hướng đi khá bài bản từ khâu chọn giống, chăm sóc thú y, xây dựng website quảng bá sản phẩm và tem, mã vạch truy xuất nguồn gốc.Nhờ vậy, sản phẩm chim bồ câu mang nhãn hiệu “HTX Chăn nuôi và Dịch vụ tổng hợp Phú Lương” được chứng nhận sản xuất an toàn đã nhanh chóng tạo được uy tín với người tiêu dùng trong và ngoài huyện.
Anh Hoàng Anh Tuấn, 36 tuổi, dân tộc Tày, Giám đốc HTX cho biết, bà con miền núi quen với cuộc sống tự cung tự cấp, hầu như gia đình nào cũng chăn nuôi nhiều loại gia súc gia cầm để phục vụ bữa ăn hàng ngày.
Vì thế, chim bồ câu cũng đã được nuôi tại địa phương từ nhiều năm nay nhưng chỉ với mục đích cải thiện chứ ít khi đem bán. Từ năm 2018, nhận thấy thị trường có nhu cầu về chim bồ câu thịt, gia đình anh và một số hộ đã đầu tư tăng đàn.
Để đảm bảo đầu ra, kiểm soát được an toàn thực phẩm, HTX đã xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi nhằm khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm.
Sản phẩm của HTX đã được cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, có đầy đủ thủ tục đăng ký, tem nhãn và đeo vòng truy xuất nguồn gốc xuất xứ sản phẩm nên được các đối tác tin tưởng, lựa chọn.
Để đảm bảo chất lượng và giữ mối liên kết, HTX luôn tuân thủ các quy định về an toàn trong chăn nuôi, đảm bảo chuồng trại thông thoáng, có lịch phun khử trùng khu vực chăn nuôi hằng tuần, tiêm phòng định kỳ cho vật nuôi để phòng bệnh…
HTX cũng cam kết, chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình, đồng thời tổ chức tư vấn, hỗ trợ về kỹ thuật cho các thành viên để chăn nuôi đảm bảo chất lượng.
Đầu tư trên 1,3 tỷ đồng cho mô hình nuôi chim bồ câu an toàn, gia đình anh Tuấn luôn duy trì tổng đàn 2.000 đôi bố mẹ, mỗi tháng xuất bán trên 1.200 đôi chim thịt. Năm đầu tiên nuôi, mỗi tháng anh lãi ròng từ 40 – 50 triệu đồng, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 4 lao động hàng ngày với mức thu nhập trên 5 triệu đồng/tháng.
Tính chung, sản lượng chim thương phẩm của cả 7 hộ thành viên xuất bán ra thị trường khoảng 40.000 con/năm, tạo việc làm cho hàng chục lao động với mức thu nhập từ 5 – 6 triệu đồng/người/tháng.
Ông Hoàng Văn Nhân, thành viên HTX chia sẻ, sau khi tham gia HTX, anh được đi tham quan, chia sẻ kinh nghiệm với các hộ nuôi chim bồ câu trong và ngoài tỉnh. Đến nay, anh và các thành viên đã nắm rõ kỹ thuật chăn nuôi và nhân rộng đàn chim bồ câu của gia đình lên 800 đôi chim bố mẹ.
Cũng từ khi tham gia vào HTX, việc tiêu thụ sản phẩm thuận lợi hơn. Các thành viên trong HTX kiên trì sản xuất an toàn để xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm của HTX…
Khó tiêu thụ vì dịch Covid
Khẳng định hiệu quả của mô hình chim bồ câu an toàn, các hộ thành viên HTX đều cho rằng giống chim bồ câu Pháp thuộc loại dễ nuôi, thích hợp với môi trường nuôi nhốt, kháng bệnh cao, trọng lượng cũng nặng hơn các giống chim bồ câu bình thường.
Khả năng sinh sản của giống chim bồ câu Pháp rất đều và cao. Mỗi con mái sau 4 – 5 tháng tuổi bắt đầu đẻ lứa đầu, mỗi lứa đẻ 2 trứng. Chim mái nghỉ dưỡng sau 10 – 15 ngày thì đẻ lứa tiếp theo, trung bình mỗi cặp chim giống đẻ từ 8 – 12 lứa/năm. Sau khi ấp 16 – 18 ngày sẽ nở, chim con được chim bố, mẹ chăm sóc tại chuồng, đến ngày thứ 30, khi đạt đủ cân nặng thì có thể xuất chuồng bán thương phẩm.

🔥SẢN PHẨM CHO GIA SÚC, GIA CẦM, THỦY HẢI SẢN,....- Chỉ 1 thìa 1 ngày Xuất chuồng  xớm 25 - 30 ngày🍀HIỆU QUẢ Sau 5-7 Ngày...
23/11/2021

🔥SẢN PHẨM CHO GIA SÚC, GIA CẦM, THỦY HẢI SẢN,....
- Chỉ 1 thìa 1 ngày Xuất chuồng xớm 25 - 30 ngày
🍀HIỆU QUẢ Sau 5-7 Ngày Sử Dụng
🌟GREENFREE - Đột Phá Trong Chăn Nuôi Hiện Đại
=> Lợi ích "VƯỢT BẬC" của sản phẩm Greenfree 01:
- Rút ngắn thời gian chăn nuôi
- Giảm chi phí thức ăn
- Tối đa hiệu quả kinh tế
Có đầy đủ sản phẩm cho gia súc, gia cầm, thủy hải sản,...
An toàn với vật nuôi và người tiêu dùng
Miễn phí giao hàng toàn quốc
📞Liên hệ ngay: 0398.615.329 để nhận báo giá và tư vấn
Địa chỉ: Nhà máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội

23/11/2021

🔥SIÊU VỖ BÉO Đột phá chăn nuôi
🍀5-7 ngày sử dụng hiện rõ kết kết quả
💥Giảm đến 1/3 thời gian chăn nuôi.
=> Lợi ích "VƯỢT BẬC" của sản phẩm Greenfree 01:
- Giảm chi phí thức ăn
- Tối đa hiệu quả kinh tế
Có đầy đủ sản phẩm cho gia súc, gia cầm, thủy hải sản,...
An toàn với vật nuôi và người tiêu dùng
Miễn phí giao hàng toàn quốc
📞Liên hệ ngay: 0398 615 329 để nhận báo giá và tư vấn
Địa chỉ: Nhà máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội

23/11/2021

🔥 Chỉ 3k/ ngày - Đàn vật nuôi tăng cân vù vù
🍀 Siêu vỗ béo GreeFree - giải pháp chăn nuôi
🍀 Sản phẩm vỗ béo vật nuôi số 1 Việt Nam
👉 TIẾT KIỆM THỜI GIAN VÀ CHI PHÍ VỐN.
1. SẢN PHẨM CHO GIA SÚC, GIA CẦM, THỦY HẢI SẢN,....
2. Rút Ngắn Thời Gian Nuôi, tiết kiệm chi phí
3. Nhiều nạc, nở ức, b**g đùi, giảm lượng cám
4. DÙNG 10-15 NGÀY LỚN RÕ RÀNG
5. Heo sử dụng tăng 30% hiệu quả chăn nuôi
6. Trâu bò vỗ béo từ 30 đến 50 ngày
7. Dê cừu vỗ béo tăng trọng 350g / 1 ngày , vỗ béo cực nhanh trong thời gian ngắn
8. Gà , vịt , chim khi sử dụng rút ngắn 1/3 thời gian chăn nuôi , giảm lượng thức ăn , tăng kháng thể cho vật nuôi
📞 HOTLINE : 0398.615.329 để được tư vấn và đặt hàng
VẬN CHUYỂN toàn quốc, kiểm tra hàng trước khi thanh toán

🔥 Vỗ véo vật nuôi - Tăng trưởng an toàn - Tiết kiệm chi phí🔥 Hiệu quả chỉ trong 15 ngày sử dụng🔥 Rút ngắn thời gian nuôi...
22/11/2021

🔥 Vỗ véo vật nuôi - Tăng trưởng an toàn - Tiết kiệm chi phí
🔥 Hiệu quả chỉ trong 15 ngày sử dụng
🔥 Rút ngắn thời gian nuôi từ 15 - 20 ngày
👉GREENFREE – Đi cùng nhà nông
Ưu đãi MUA 2 TẶNG 1

Các giải pháp phòng, chống bệnh Cúm A/H5N8 trên đàn gia cầm  1. Tổ chức tổng tẩy uế môi trường toàn Thành phố, trong đó ...
22/11/2021

Các giải pháp phòng, chống bệnh Cúm A/H5N8 trên đàn gia cầm
1. Tổ chức tổng tẩy uế môi trường toàn Thành phố, trong đó tập trung cao độ ở các huyện có chăn nuôi gia cầm lớn, các khu vực lây nhiễm cao, các bãi rác, chợ có kinh doanh động vật và sản phẩm động vật. Phối hợp với ngành Y tế của các địa phương để tổ chức tổng tẩy uế môi trường, kể cả các khu vực phải phong tỏa nhưng các hộ vẫn có chăn nuôi gia súc gia cầm. Tùy tình hình thực tế tại cơ sở để triển khai việc phun thuốc sát trùng, vệ sinh tiêu độc đảm bảo có hiệu quả.
2. Tổ chức tiêm phòng vác xin cúm gia cầm cho toàn đàn gia cầm sinh sản, khuyến cáo để người dân thực hiện tiêm phòng cho đàn gia cầm thương phẩm tạo miễn dịch chủ động.
3. Thực hiện tốt việc kiểm soát vận chuyển lưu thông động vật và sản phẩm động vật, nhất là tăng cường hoạt động tại các chốt kiểm dịch đầu mối giao thông kiểm soát lượng gia cầm ra, vào Thành phố tại các chợ đầu mối Hà Vĩ (Thường Tín), Hải Bối (Đông Anh). Tăng cường công tác kiểm soát hoạt động giết mổ, nhất là tại các cơ sở giết mổ gia cầm.
4. Tăng cường công tác tuyên truyền để người dân chủ động phòng chống dịch bệnh ngay tại hộ, một giải pháp đơn giản nhưng hiệu quả, bởi hơn lúc nào hết kể cả thời gian phải giãn cách xã hội, người chăn nuôi vẫn là chủ thể để thực hiện biện pháp kỹ thuật ngay tại chuồng nuôi để không để dịch xảy ra. Những biện pháp cụ thể là chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tiêm phòng đầy đủ, định kỳ tổng tẩy uế môi trường, phát hiện và khai báo kịp thời khi thấy gia cầm không bình thường để có biện pháp khống chế, ngăn chặn.
Chắc chắn với các giải pháp trên được triển khai đồng bộ, công tác phòng chống dịch bệnh gia súc gia cầm nói chung, phòng chống bệnh Cúm A/H5N8 sẽ đạt hiệu quả.

Chăn nuôi cuối năm: Thúc đẩy tiêu thụ(Người Chăn Nuôi) - Do ảnh hưởng dịch COVID-19, ngành chăn nuôi những tháng đầu năm...
22/11/2021

Chăn nuôi cuối năm: Thúc đẩy tiêu thụ
(Người Chăn Nuôi) - Do ảnh hưởng dịch COVID-19, ngành chăn nuôi những tháng đầu năm 2021 gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ cũng như lưu thông sản phẩm. Tuy nhiên thời điểm cuối năm, ngành chăn nuôi quyết tâm khắc phục khó khăn, đẩy mạnh nâng cao chất lượng và tiêu thụ sản phẩm.
Khó khăn vì COVID-19
Chiều 25/10, tại Hà Nội, Bộ NN&PTNT tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai các giải pháp ổn định sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi.
Tại Hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Văn Trọng cho biết, 9 tháng đầu năm 2021, ngành chăn nuôi vẫn cơ bản phát triển ổn định. Theo tổng hợp báo cáo của các địa phương, 9 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng trên 4,7 triệu tấn, đồng thời, về trứng, đạt trên 12 tỷ quả, sữa đạt gần 900 nghìn tấn. Giá trị sản xuất lĩnh vực chăn nuôi ước tính tăng 4,2%.
Cụ thể, đến cuối tháng 9, đầu tháng 10/2021, tổng đàn heo cả nước trên 28 triệu con, tăng 5%, những tỉnh có đàn heo lớn như Đồng Nai, Hà Nội, Bình Phước, Bắc Giang, Thanh Hóa; Sản lượng thịt heo hơi 9 tháng đầu năm đạt khoảng 2,9 triệu tấn, 16 doanh nghiệp chăn nuôi lớn vẫn duy trì phát triển, hiện tổng đàn heo thịt trên 6 triệu con, chiếm 23 - 24% tổng đàn heo thịt của cả nước.
chăn nuôi heo
Việc tham gia vào mô hình kinh tế tập thể giúp ngành chăn nuôi heo hạn chế được nhiều rủi ro từ thị trường - Ảnh: CTV
Tổng đàn gia cầm khoảng 523 triệu con, tăng 4,4%, những tỉnh có đàn gia cầm trên 20 triệu con như: Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hóa, Đồng Nai; Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt gần 1,3 triệu tấn; Sản lượng trứng gia cầm đạt gần 12 tỷ quả, tăng 5% so cùng kỳ.Đàn bò gần 6,3 triệu con, tăng 1,8%, trong đó đàn bò sữa trên 331 nghìn con, tập trung chủ yếu ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung với trên 2,32 triệu con (chiếm 237%); Sản lượng thịt bò hơi 9 tháng đầu năm 2021 ước đạt 335,5 nghìn tấn; Sản lượng sữa bò tươi đạt gần 900 nghìn tấn, tăng 11,5% so cùng kỳ năm 2020. Đàn trâu khoảng 2,34 triệu con, giảm 3,8% so cùng kỳ năm 2020, tập trung chủ yếu các tỉnh miền núi và Trung du chiếm 55,3%; Sản lượng thịt trâu 9 tháng đầu năm 2021 ước đạt 91,4 nghìn tấn. Hiện, cả nước có trên 2,65 triệu con dê và khoảng 115 nghìn con cừu; Tổng sản lượng thịt dê, cừu trong 9 tháng đầu năm 2021 ước đạt 27,1 nghìn tấn.
Ông Trọng cho biết thêm, do dịch COVID-19 nhiều tỉnh thành trên cả nước thực hiện giãn cách xã hội, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các trường học, bếp ăn tập thể cơ bản dừng hoạt động; Các nhà hàng, quán ăn, khách sạn, chợ đầu mối, chợ dân sinh không hoạt động, đặc biệt 3 chợ đầu mối là Bình Điền, Hóc Môn, Thủ Đức phải đóng cửa... dẫn đến nhu cầu sử dụng thực phẩm giảm rõ rệt 30 - 50% như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Đối với ngành chăn nuôi heo, thịt heo chiếm thị phần lớn trong các sản phẩm chăn nuôi, ở Việt Nam chiếm khoảng 65 - 66%, hiện nay cũng đang chịu tác động tiêu cực ở nhiều quốc gia do người tiêu dùng đã chuyển sang tiêu thụ các loại protein khác.
Người sản xuất, thiếu hụt vốn để duy trì sản xuất do tồn đọng nhiều sản phẩm không tiêu thụ được, lưu thông hàng hóa khó khăn nên sản phẩm quá lứa, ứ đọng; Chi phí sản xuất phát sinh quá lớn, một bộ phận người dân, cơ sở phải dừng sản xuất, kinh doanh do không đủ nguồn lực tái sản xuất; Việc tiếp cận các khoản vay mới từ các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn.
Lượng gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ đều giảm so thời điểm trước dịch COVID-19 là 27,7% đối với heo, 49,8% đối với gà. Nguyên nhân chính là do việc đóng cửa các chợ đầu mối, chợ truyền thống, xét nghiệm COVID-19 khó khăn, thiếu lao động do có F0 và F1. Đặc biệt, nhiều cơ sở giết mổ không đủ điều kiện thực hiện “3 tại chỗ”.
Tiêu thụ sẽ tăng
Đó là nhận định mà ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản đưa ra tại Hội nghị. Theo ông Toản, những tháng cuối năm, nhu cầu tiêu thụ thịt sẽ tăng dần theo tiến độ hồi phục và mở cửa tại một số đô thị. Tuy nhiên về giá đang duy trì ở mức thấp, có biến động tăng giảm theo chu kỳ sản xuất do: Thị trường trong nước tác động liên thông với thị trường nước ngoài; Nhu cầu cao tập trung vào tháng 11, 12 (Noel và Tết Nguyên đán).
Còn theo Cục Chăn nuôi, đến nay, mặc dù các địa phương đã trở lại trạng thái bình thường, tuy nhiên lượng nhân công lao động ở các địa phương vẫn chưa quay lại các thành phố lớn để làm việc, các trường học vẫn đóng cửa, các quán ăn mở đón khách, khách du lịch với số lượng hạn chế do vậy mức tiêu dùng thực phẩm vẫn còn hạn chế. Khi kiểm soát tốt được dịch bệnh COVID-19 thì mọi hoạt động sẽ dần trở lại bình thường và nhu cầu tiêu dùng thực phẩm sẽ tăng trong những ngày sắp tới.
chế biến gia cầm
Lượng gia cầm đưa vào giết mổ 9 tháng đầu năm 2021 giảm mạnh - Ảnh: Lượng Huệ
Cục Chăn nuôi cũng nhận định: Từ nay đến cuối năm 2021, nếu kiểm soát tốt dịch bệnh đối với người, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm thì cơ bản chủ động được nguồn cung thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, một phần cho xuất khẩu, kể cả nhu cầu cho Tết Nguyên đán Nhâm Dần. Tuy nhiên, trong các tháng tới, để góp phần giúp ổn định sản xuất của ngành chăn nuôi, Cục Chăn nuôi cho rằng, cần có hỗ trợ kịp thời về nguồn vốn để duy trì đủ nguồn cung cho tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu.
Các địa phương rà soát, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho sản xuất (giống, thức ăn, máy móc thiết bị, vật tư…) để xây dựng kế hoạch, phương án tổ chức sản xuất cụ thể trong mọi tình huống. Các địa phương đã khống chế được dịch COVID-19 cần đẩy mạnh phát triển sản xuất để hỗ trợ và bù đắp lại phần thiếu hụt cho các tỉnh phía Nam khi dịch COVID-19 chưa được khống chế.
Đặc biệt, tiếp tục khôi phục, tăng đàn heo; Ổn định phát triển đàn gia cầm, gia súc ăn cỏ và phát triển một số loại vật nuôi lợi thế trong điều kiện có dịch COVID-19 và sau dịch. Tăng cường chỉ đạo triển khai mô hình chăn nuôi ăn toàn sinh học, thực hành chăn nuôi tốt, tăng cường chăn nuôi theo hướng hữu cơ trong chuỗi nông nghiệp tuần hoàn.
Tại Hội nghị, đại diện một số doanh nghiệp đã nêu các ý kiến cần được quan tâm để khắc phục những bất cập hiện nay. Theo đó, việc giá một số sản phẩm chăn nuôi giảm là do tác động của dịch COVID-19 và do chăn nuôi nhỏ lẻ thiếu thông tin. Dẫn đến người dân đổ xô bán nên giá xuống rất nhanh. Do đó, cần có những thông tin kịp thời, chính thống đến sớm với người chăn nuôi, tránh đổ xô theo trào lưu.
Đồng thời, các doanh nghiệp mong muốn Bộ NN&PTNT, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Cục Thú y có nhiều chương trình hợp tác, xúc tiến thị trường, thông tin cho các doanh nghiệp hàng đầu ở Việt Nam. Để từ đó, các doanh nghiệp có thông tin để cùng tìm kiếm thị trường xuất khẩu.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến cho biết, do ảnh hưởng của COVID-19, tiêu thụ nông sản nói chung và thịt heo, gia cầm nói riêng có những ảnh hưởng nhất định. Những ngày gần đây, giá thịt heo tăng trở lại theo từng ngày, giá gà công nghiệp cũng đã tăng. Do đó, chúng ta cần phải tính toán để từ nay đến Tết đảm bảo nguồn cung thực phẩm.
“Ngành chăn nuôi phải tổ chức thành chuỗi sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ. Đây là đòi hỏi trước mắt và lâu dài để chăn nuôi đảm bảo phát triển bền vững, nâng cao giá trị gia tăng. Nếu để sản xuất nhỏ lẻ sẽ không chỉ rất khó đảm bảo về tiêu thụ mà kể cả phòng chống dịch bệnh, chăn nuôi an toàn sinh học”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.

Nuôi chóTheo văn hóa ẩm thực của Việt Nam thì thịt chó được xếp trong hàng đặc sản vì thế mà nhu cầu tiêu thụ rất cao. C...
22/11/2021

Nuôi chó
Theo văn hóa ẩm thực của Việt Nam thì thịt chó được xếp trong hàng đặc sản vì thế mà nhu cầu tiêu thụ rất cao. Có cầu thì phải có nguồn cung đó là quy luật tất yếu của thị trường. Nắm bắt kịp thời xu thế này nhiều hộ gia đình đã đi sâu vào nuôi chó thương phẩm để cung cấp cho thị trường.
Giá thành mỗi con chó giống chỉ khoảng 80.000 - 100.000 đồng, chế độ ăn uống đơn giản dễ nuôi sau khoảng 3 tháng cho xuất chuồng với giá thịt hơi khoảng 40.000 - 50.000 đồng/kg, mỗi con chó thương phẩm có trọng lượng trung bình từ 10 - 14 kg tức người nuôi sẽ thu về một khoản không dưới 500.000 đồng. Nếu nuôi với số lượng lớn thì thu nhập có thể lên tới vài chục triệu đồng một tháng.
Hiện nay mô hình nuôi chó thương phẩm đang được nhân rộng, với quy mô từ vài chục đến vài trăm con đã và đang giúp nhiều hộ gia đình sớm thoát khỏi diện khó khăn và có của ăn, của để.

Sử dụng thức ăn hiệu quả cho gà12/11/2021 | 14:41(Người Chăn Nuôi) - Việc lựa chọn và sử dụng thức ăn đảm bảo đầy đủ các...
22/11/2021

Sử dụng thức ăn hiệu quả cho gà
12/11/2021 | 14:41
(Người Chăn Nuôi) - Việc lựa chọn và sử dụng thức ăn đảm bảo đầy đủ các giá trị dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của gà góp phần tăng năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Lựa chọn
Thức ăn công nghiệp: Nên chọn những sản phẩm có thương hiệu, uy tín, có xuất xứ rõ ràng, có đầy đủ thông tin sản phẩm ghi trên bao bì như: Tên sản phẩm, tên, địa chỉ, số điện thoại, email của công ty/cơ sở sản xuất, ngày sản xuất, hạn sử dụng, xuất xứ sản phẩm, thành phần nguyên liệu, thành phần dinh dưỡng, hướng dẫn sử dụng, bảo quản. Thức ăn đảm bảo kích cỡ viên, hạt, mảnh phù hợp theo từng lứa tuổi, hướng sản xuất. Sản phẩm có thương hiệu, chất lượng tốt, dinh dưỡng cao và cân đối các thành phần. Không mua các sản phẩm đã hết hạn sử dụng, bị nhiễm nấm mốc, thức ăn có trộn các chất cấm (chất tạo nạc, kích thích tăng trọng...).
Thức ăn phối trộn: Nên tận dụng các nguyên liệu sẵn có tại địa phương như: Ngô, cám gạo, khoai, sắn... để giảm giá thành sản phẩm. Nguyên liệu phối trộn phải đảm bảo chất lượng. Không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, không ẩm mốc, sâu mọt, không có mùi lạ và không vón cục. Các loại nguyên liệu thức ăn trước khi phối trộn phải được nghiền nhỏ. Một số nguyên liệu cần được sơ chế trước để dễ tiêu hóa như: Ðậu tương phải rang chín, vỏ sò, vỏ hến phải nung nóng trước khi nghiền. Khi phối trộn cần tuân thủ theo quy trình và công thức đã khuyến cáo cho gia cầm theo từng giai đoạn sinh trưởng, sử dụng càng nhiều loại thức ăn càng tốt. Trong trường hợp phải trộn thuốc vào thức ăn, trước khi trộn cần kiểm tra đúng chủng loại thuốc, các thông tin về sản phẩm (ngày sản xuất, hạn sử dụng, liều lượng, thời gian ngừng thuốc…) và sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Cách trộn thức ăn: Trước tiên cân khối lượng của từng loại nguyên liệu theo công thức cho từng mẻ trộn. Ðổ dàn đều các loại nguyên liệu dùng để phối trộn ra bạt, nền nhà sạch khô hoặc gạch lát theo thứ tự loại nhiều đổ trước, loại ít đổ sau. Sau khi trộn đều có thể ép viên sấy hoặc phơi khô và được đóng vào bao chứa có 2 lớp: Lớp nilon ở trong, bao dứa ở ngoài. Thức ăn trộn xong, cho gà ăn không quá 1 tuần.
Căn cứ vào quy mô, lứa tuổi đàn vật nuôi để tính toán lượng thức ăn phù hợp, không nên phối trộn thức ăn quá nhiều, gà sẽ không ăn hết, bảo quản lâu sẽ giảm chất lượng và không hiệu quả. Thức ăn phối trộn phải đảm bảo rẻ, dễ sử dụng và bảo quản tốt. Thường xuyên theo dõi tình hình phát triển của đàn gà để điều chỉnh công thức phối trộn cho phù hợp.
Gà ở lứa tuổi nào thì sử dụng loại thức ăn phù hợp với lứa tuổi đó - Ảnh: Deheus
Sử dụng
Khi cho gà ăn, người nuôi cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Trước khi cho ăn, phải kiểm tra đàn gà, thức ăn thừa trong máng, kiểm tra chất lượng thức ăn bằng cảm quan về màu sắc, mùi vị và nấm mốc.
- Gà ở lứa tuổi nào thì sử dụng loại thức ăn đó để phù hợp với sinh trưởng phát triển và hướng sản xuất của gà, không nên sử dụng một loại thức ăn cho nhiều lứa tuổi.
- Lượng thức ăn cho gà trong ngày phải dựa vào nhu cầu và mục đích chăn nuôi để đảm bảo tiết kiệm và tăng hiệu quả sử dụng.
- Khi cho gà ăn, cần đảm bảo thức ăn được phân bố đều, tránh hiện tượng ăn không đồng đều, dẫn đến gà còi cọc, chậm lớn.
- Khi thay đổi thức ăn, cần chuyển dần trong vài ngày, không nên chuyển đột ngột vì có thể làm chúng kén ăn và rối loạn tiêu hóa. Trong trường hợp muốn thay đổi khẩu phần cho gà, người nuôi cần thực hiện theo nguyên tắc sau: Ngày thứ 1 cho ăn 75% thức ăn cũ + 25% thức ăn mới; Ngày thứ 2 cho ăn 50% thức ăn cũ + 50% thức ăn mới; Ngày thứ 3 cho ăn 25% thức ăn cũ + 75% thức ăn mới; Ngày thứ 4 trở đi cho ăn 100% thức ăn mới.
Bảo quản
Thức ăn phải được bảo quản nơi khô ráo, cần có giá kê thức ăn và nguyên liệu, đảm bảo cách mặt đất ít nhất 20 cm, không được đặt trực tiếp thức ăn xuống nền.
Kho chứa thức ăn phải sạch sẽ, thông thoáng, tránh chuột cắn bao bì gây ẩm mốc và hỏng thức ăn. Ðịnh kỳ vệ sinh kho, dọn dẹp thức ăn rơi vãi trong kho, diệt chuột và các côn trùng gây hại khác.
Cần chú ý những bao thức ăn bị rách (vì khả năng nhiễm nấm mốc sẽ cao). Không để những bao chứa thức ăn cũ (bao không) chung với nơi trữ thức ăn (vì rất dễ nhiễm nấm mốc từ bao không sang bao có thức ăn).
Ðối với thức ăn tự phối trộn nên sử dụng trong vòng 7 - 10 ngày.
Ðối với thức ăn hỗn hợp công nghiệp, nên sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Không bảo quản thức ăn cùng nơi để các loại hóa chất độc hại, để dụng cụ chăn nuôi, quần áo, không để thức ăn trực tiếp trong chuồng nuôi.
Quản lý
Trong quá trình chăn nuôi cần phải ghi chép sổ sách đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến sử dụng thức ăn như: Nhập nguyên liệu, thức ăn công nghiệp, quá trình cung cấp thức ăn cho gà tại chuồng theo khẩu phần ăn hàng ngày, bổ sung thuốc, vitamin vào thức ăn để phòng, chữa bệnh… vào sổ theo dõi sẽ giúp cho việc kiểm soát và quản lý thức ăn tốt hơn.

Dinh dưỡng cho vịt đẻThức ănThức ăn đóng vai trò quan trọng để có sản phẩm an toàn. Vì vậy, thức ăn sử dụng cho vịt cũng...
22/11/2021

Dinh dưỡng cho vịt đẻ
Thức ăn
Thức ăn đóng vai trò quan trọng để có sản phẩm an toàn. Vì vậy, thức ăn sử dụng cho vịt cũng phải xuất phát từ các cơ sở sản xuất đảm bảo công tác vệ sinh. Ngoài ra, tăng cường sử dụng nguồn thức ăn địa phương sẽ giúp hạ giá thành sản phẩm, nhưng nguồn thức ăn này cũng phải đảm bảo vệ sinh. Không sử dụng thức ăn mà có chất kích thích tăng trọng, có các hóa chất cấm trong thức ăn.
Những nguyên liệu thức ăn thường sử dụng cho vịt: Gạo, thóc, ngô, đỗ tương, tấm, cám, cá tép, cua, ốc, don, dắt, bã bia bã rượu, khoai, rau, bèo… nếu thức ăn được nấu chín thì khả năng tiêu hóa và hấp thụ tốt hơn và có hiệu quả kinh tế hơn.
Khi sử dụng các loại thức ăn phải lưu ý không được mốc và ôi chua. Thức ăn nào phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng/kg phù hợp cho từng giống vịt và từng giai đoạn vịt.
Người nuôi cũng có thể thúc đẻ bằng thức ăn hỗn hợp hoặc mồi tươi với thóc, khi vịt đẻ trứng đầu tiên tăng thức ăn lên 15%, khi đàn đẻ được khoảng 5% vừa tăng lượng thức ăn, đồng thời cho vịt ăn tự do ở nhiều hơn.
Trong giai đoạn nuôi vịt con và hậu bị còn phụ thuộc vào khối lượng của chúng nếu khối lượng cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn thì phải điều chỉnh lượng thức ăn tăng hoặc giảm 5 g/con/ngày.
Nước uống
Cung cấp nước sạch đảm bảo cho vịt uống. Vịt ở tuần tuổi thứ nhất không cho uống nước lạnh dưới 100C, tuần thứ 2 và 3 không cho uống nước lạnh dưới 60C và cũng cần hạn chế vịt uống nước trên 250C. Nhu cầu nước uống trung bình: 1 - 7 ngày tuổi: 120 ml/con/ngày; 8 - 14 ngày tuổi: 250 ml/con/ngày; 15 - 28 ngày tuổi: 350 ml/con/ngày.
Nước uống giai đoạn sau (5 - 8 tuần) nhu cầu vịt cần 0,4 - 0,6 lít/con/ngày, luôn phải có nước sạch cho vịt uống. Ở giai đoạn này máng ăn vẫn để trong chuồng nuôi còn máng uống bố trí ở sân chơi để tránh bị ướt chuồng. Máng uống không để quá xa nơi vịt ăn.
Đến giai đoạn hậu bị, nếu nuôi nhốt vịt trên khô hoặc nuôi khô trong vườn thì cần phải cung cấp nước uống cho đủ, thường xuyên, sạch sẽ. Nhu cầu nước uống mỗi ngày cho vịt từ 0,5 - 0,6 lít/con.
Giai đoạn sinh sản, nhu cầu nước cho vịt 0,6 - 0,7 lít/con/ngày. Sử dụng nước sạch cho vịt uống và tắm. Nếu không đủ nước hoặc với một lý do nào đó vịt không uống nước sẽ dẫn đến không ăn và cuối cùng là không đẻ. Vào mùa hè, máng uống ở ngoài chuồng nuôi phải được che chắn tránh để vịt uống nước nóng, đồng thời thường xuyên thay nước uống cho vịt.

Address

Nhà Máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm
Hanoi
10000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cám Siêu Tăng Trưởng Vật Nuôi Green Free posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category