Men vi sinh trong chăn nuôi

Men vi sinh trong chăn nuôi Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Men vi sinh trong chăn nuôi, Veterinarian, Hanoi.

Một số biện pháp giảm mùi hôi, ô nhiễm trong chăn nuôi1-Vệ sinh chuồng trạiĐể chuồng gà luôn khô ráo và sạch sẽ, khi thi...
23/08/2025

Một số biện pháp giảm mùi hôi, ô nhiễm trong chăn nuôi

1-Vệ sinh chuồng trại
Để chuồng gà luôn khô ráo và sạch sẽ, khi thiết kế cần chú ý không gian thoáng và lấy được ánh sáng mặt trời nhằm tiêu diệt nấm mốc và vi khuẩn có hại. Buổi sáng, nên mở tất cả cánh cửa để ánh nắng rọi vào giúp không khí trong chuồng được ấm áp, và nhờ đó tiêu diệt được các loại vi khuẩn, ký sinh trùng ẩn náu trong các góc kẹt của chuồng, dưới lớp lông vũ của gà (trừ trường hợp sáng đó trời mưa hoặc chuyển mưa).
Các loại máng đựng thức ăn, nước uống là nơi chứa rất nhiều vi khuẩn gây bệnh, vì vậy cần phải được cọ rửa hàng ngày và khử trùng thường xuyên. Ngoài ra, cần vệ sinh các khay chứa thức ăn và nước uống nhằm hạn chế mùi hôi phát sinh cũng như an toàn cho sức khỏe gà. Đối với gà bị bệnh hoặc chết cần thu gom xử lý kịp thời để tránh lây lan và phát tán mùi khó chịu.
Thường xuyên làm sạch phân trong và xung quanh chuồng trại. Kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm trong chuồng trại và đảm bảo phân đã khô. Nên cung cấp đủ lượng rác hữu cơ hoặc rơm sẽ giúp gắn kết nitơ và ngăn chặn Amoniac thoát ra ngoài. Phân phải được thu gom và chuyển đến khu vực chứa.
Quét dọn chuồng trại để giảm thiểu bụi. Thường xuyên làm sạch bụi trong chuồng và các lỗ thông gió. Tránh bào tử gây mùi hoặc các chất hữu cơ khác lâu ngày bị phân hủy sinh ra mùi hôi. Cùng đó, những lối đi trong chuồng gà và hành lang xung quanh khu vực chuồng gà cũng cần được quét dọn sạch sẽ.

2-Thông gió phù hợp
Thông gió là “chìa khóa” để xử lý mùi hôi từ chuồng gà. Do đó, người nuôi cần giữ không khí trong chuồng trại thoáng mát, giúp phân tán mùi hôi trong trang trại. Có thể tăng cường thông gió bằng cách sử dụng quạt.

3-Dùng men rắc chuồng sinh học
Đây là giải pháp được các chuyên gia khuyến khích lựa chọn hiện nay. Không chỉ loại bỏ mùi hôi, chế phẩm sinh học còn có tác dụng hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Ưu điểm vượt trội của sản phẩm là tuyệt đối an toàn cho người và vật nuôi, không ảnh hưởng đến bề mặt nền. Chế phẩm với các thành phần vi khuẩn có lợi, hoàn toàn thân thiện mới môi trường, có hiệu quả lâu dài, triệt để.

4-Kết hợp sử dụng thức ăn bổ sung probiptics và men rắc chuồng vi sinh
Đây là giải pháp tổng thể trong chăn nuôi hiện đại vừa tăng năng suât và đảm bảo vệ sinh học. các Probiotics được bổ sung vào thức ăn sẽ giúp vật nuôi tang khả năng tiêu hóa,hạn chế các vi sinh vật gây bệnh tạo ra sức đề kháng tốt cho vật nuôi.men rắc chuồng sinh học sẽ phân hủy phân trên nền chuồng,sử dụng đơn giản,hạn chế mùi hôi đáng kể đảm bảo an toàn sinh học cho người và vật nuôi./.
Men vi sinh trong chăn nuôi

Probiotics trong chăn nuôi gia cầm Probiotics được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm từ năm 1970, đặc biệt sử dụng cho gà ...
23/08/2025

Probiotics trong chăn nuôi gia cầm

Probiotics được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm từ năm 1970, đặc biệt sử dụng cho gà con mới nở. Nurmi và Rantala (1973) chứng minh rằng sử dụng chất nạo từ niêm mạc manh tràng của gia cầm trưởng thành cho gà con mới nở uống có thể ức chế vi khuẩn Salmonella enterica serotype Enteritidis. Mead (1989) đã khuyến cáo về việc sử dụng probiotics cho gà con mới nở trong giai đoạn từ 4-6 tuần tuổi do thời kỳ này hệ vi sinh vật ở manh tràng của gà con mới nở chưa phát triển ổn định cho đến 6 tuần tuổi.
Đến nay có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng hiệu quả kháng khuẩn theo cơ chế cạnh tranh đối kháng của probiotics có thể giúp vật chủ chống lại một số vi khuẩn gây bệnh như Salmonellatyphimurium, Campylobacter jejuni, Yersinia Enterocolitica và Eschreichia coli O157:H7 (Casey và cs., 2007; Schoeni và Wong, 1994; Zhang và cs., 2007; Weinnack và cs., 1981). Nghiên cứu của Watkins và Kratzer (1983) cho thấy: gà được bổ sung chế phẩm có các chủng Lactobacillus có số lượng coliforms ở manh tràng thấp hơn rõ rệt với lô đối chứng.
Vào những năm 1990s hai chế phẩm probiotic thương mại là BROILACT® và AVIGUARD® đã được sử dụng rộng rãi ở UK cho gà 1 ngày tuổi với mục đích ức chế Salmonella enteritidis PT4 và S. typhimurium. Kết quả sử dụng các chế phẩm này đã làm giảm đáng kể số lượng vi khuẩn Salmonella ở phân gà (Nuotio và cs., 1992; Schneitz và Nuotio, 1992). Các chế phẩm sử dụng probiotic đơn chủng cũng dã được sử dụng để kiểm soát Salmonella và E. coli ở gà thịt. Theo báo cáo của Edens và cs. (1997), Higgins và cs (2007), Vicente và cs. (2008), sử dụng probiotic đơn chủng thuộc giống Lactobacillus đã làm giảm tỷ lệ nhiễm Salmonella và E. coli ở gà thịt và gà tây. La Ragione và cs. (2004) cũng báo cáo rằng số lượng vi khuẩn Clostridium perfringens và E. coli O78:K80 đã giảm rõ rệt sau khi sử dụng chủng Lactobacillus johnsonii F19785 cho gà thịt.
Sử dụng Probiotic dạng bào tử của vi khuẩn Bacillus subtilis đã cho thấy khả năng ức chế hoàn toàn vi khuẩn Clostridium perfringens ở gà con 1 ngày tuổi. Tuy nhiên hiệu quả thải trừ vi khuẩn trong phân diễn ra chậm có thể do bào tử cần có thời gian để nảy mầm trong đường ruột của gà (La Ragione và Woodward, 2003).Một nghiên cứu khác của (Kizerwetter-Swida và Binek, 2009, cho thấy sau khi bổ sung Lactobacillussalivariustrong khẩu phần đã làm giảm số lượng vi khuẩn Clostridiumperfringens và Salmonella enteritidis.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi về hiệu quả của việc sử dụng probiotics với mục đích phòng và điều trị bệnh khi so sánh với hiệu quả sử dụng kháng sinh. Các ý kiến cho rằng các kiến cứu đã cho thấy một số tiềm năng của việc sử dụng probiotic trong phòng và trị bệnh đường ruột ở gia cầm nhưng câu hỏi đặt ra là các chủng vi khuẩn probiotic có thực sự ức chế và tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh? Bởi vì một số nghiên cứu in vivo cho thấy sau khi sử dụng các hoạt chất kháng khuẩn của vi khuẩn Lactic như bacteriocin cho gà thịt thì vi khuẩn gây bệnh vẫn được tìm thấy ở trong phân với số lượng dao động từ 103-104cfu/g (Corr và cs., 2007)
Các nghiên cứu sử dụng probiotic để ức chế Campylobacter, cầu trùng ở gia cầm
Hiệu quả của việc sử dụng chất chứa niêm mạc manh tràng của gà trưởng thành khỏe mạnh để ức chế vi khuẩn Campylobacter jejuni đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu của Fuller (1992), Zhang và cs. (2007). Trong đó, Zhang và cs (2007) đã phân lập được 145 chủng vi khuẩn có lợi từ manh tràng của gà có khả năng ức chế Campylobacter jejuni và Salmonella spp. Một số nghiên cứu cho thấy sử dụng probiotic đa chủng gồm Citrobacter diversus 22, Klebsiella pneumonia 23 và E. coli 25 (CE3) có hiệu quả tốt trong việc hạn chế khả năng nhiễm Campylobacter jejuni ở gà 1 ngày tuổi (Schoeni và Wong, 1994; Timmerman và cs. 2004). Các tác giả cho rằng khi sử dụng probiotic đa chủng, cơ chế tác động cạnh tranh giữa các vi khuẩn có lợi và gây bệnh sẽ hiệu quả hơn khi sử dụng probiotic đơn chủng. Bên cạnh đó, Probiotics bảo vệ gà thịt chống lại cầu trùng Eimeria acervulina ở ruột non do tăng tiết interferon IFN-γ và Interleukin IL-2 từ đó tăng hoạt động miễn dịch cục bộ chống lại cầu trùng (Dalloul và cs , 2003)
Sử dụng probiotic với mục đích tăng cường tiêu hóa hấp thu, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, tiết kiệm thức ăn và giảm chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng
Ngoài mục đích phòng và trị bệnh, probiotic còn được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm với mục đích tăng khả năng tiêu hóa hấp thu, tăng hiệu quả chăn nuôi. Han và cs. (1999) báo cáo, khi bổ sung 0,15% Aspergillusoryzae và 0,3% Saccharomycescerevisiae trong khẩu phần của gà thịt đã làm tăng khả năng hoạt động của enzyme amylolytic và proteolytic, giúp tăng khả năng tiêu hóa protein và năng lượng trao đổi năng lượng ở gà. Candrawati và cs. (2014) đã bổ sung Saccharomycesspp. S-7 trong khẩu phần cho gà thịt với tỷ lệ 0,2, 0,4 và 0,6% đã làm tăng khối lượng tích lũy, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng tỷ lệ thịt lườn, giảm tỷ lệ mỡ bụng và giảm có ý nghĩa thống kê hàm lượng cholesterol trong máu so với đối chứng.
Sử dụng probiotics với mục đích giảm mùi
Chăn nuôi gia cầm tập trung với mật độ cao ở gần khu dân cư thường phải đối mặt với tình trạng mùi hôi do sự tích tụ một lượng lớn khí NH3, H2S trong chuồng nuôi..
Chiang và Hsiel (1995) đã báo cáo rằng, bổ sung Lactobacillus, Bacillus và Streptococcus với liều lượng 0,5g/kg thức ăn đã làm giảm đáng kể hoạt động của enzyme urease và NH3 sản sinh ra trong phân của gà thịt 6 tuần tuổi.
Bổ sung vào lớp độn lót chuồng của gà thịt,gà nuôi đẻ trứng làm giảm hàm lượng khí NH3 trong chuồng nuôi đã xuống đáng kể. Số lượng vi khuẩn Salmonella và Clostridium perfringens trong phân cũng đã giảm,mà không ảnh hưởng tới năng suất thịt, trứng của gà./.

Men vi sinh trong chăn nuôi

Probiotics trong chăn nuôi lợn   Probiotics sử dụng trong chăn nuôi lợn chủ yếu dưới dạng thức ăn bổ sung: bổ sung vào t...
23/08/2025

Probiotics trong chăn nuôi lợn

Probiotics sử dụng trong chăn nuôi lợn chủ yếu dưới dạng thức ăn bổ sung: bổ sung vào thức ăn hoặc nước uống với mục đích tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu. Các VSVcó lợi trong quá trình tiêu hóa sẽ tham gia phân giải carbohydrate, lipid, protein, cellulose; Enzyme của VSVgiúp quá trình tiêu hóa xơ trong đường ruột của động vật dạ dày đơn, từ đó tăng tỷ lệ tiêu hóa, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Hệ enzyme saccharolytic của VSVnhư cellulase, hemicellulase, xylanase, pectinase giúp quá trình tiêu hóa xơ trong đường ruột của động vật dạ dày đơn, từ đó tăng tỷ lệ tiêu hóa, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn.
Quá trình phân giải carbohydrate trong manh tràng, ruột già ở động vật dạ dày đơn sản sinh các axit béo bay hơi chuỗi ngắn (SCVFA), axit lactic và các chất khí (H2, CO2, CH4). Các axetat nhanh chóng hấp thu vào máu, cung cấp năng lượng cho các mô cơ. Propionic chuyển thành đường glucose ở gan; Butyrate là nguồn cung cấp năng lượng chính cho tế bào biểu mô niêm mạc ruột già. Axit hữu cơ sản sinh trong quá trình lên men của nhóm vi khuẩn có lợi giúp tăng cường hấp thu sắt, muối khoáng và hoạt hóa các enzyme giúp tăng khả năng tiêu hóa hấp thu.
Pollmann và cs. (1980) đã báo cáo rằng bổ sung probiotic đơn chủng Lactobacilllusacidophilus có thể cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR) và tăng khả năng tăng khối lượng (ADG) ở lợn con nhưng không có hiệu quả tương tự đối với lợn ở giai đoạn vỗ béo. Huang và cs. (2004) đã chứng minh rằng, bổ sung Lactobacilli vào khẩu phần ăn hàng ngày cho lợn con cai sữa có thể tăng lượng thức ăn thu nhận của lợn và tăng khối lượng bình quân g/con/ngày trong 2 tuần đầu tiên tuy nhiên không hiệu quả ở các tuần tiếp theo. Le Bon và cs (2010) cũng cho biết, sử dụng probiotic cho lợn con cai sữa đã cải thiện đáng kể hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn. Mặc dù độ dài của lông nhung, khả năng tiết dịch nhầy và độ dày của lớp dịch nhầy trên niệm mạc ruột non không có sự thay đổi sau 4 tuần sử dụng probiotic nhưng số lượng E. coli đã giảm rõ rệt khi so sánh với lô đối chứng.
Hiệu quả của việc cải thiện khả năng tiêu hóa hấp thu của probiotic đã được chứng minh là do các VSVprobiotic có hệ enzyme phong phú, giúp tăng cường quá trình lên men phân giải các hợp chất hữu cơ, protein, xơ… và các chất khoáng (phosphor) trong thức ăn. Theo Kim và cs. (2007), các vi khuẩn lactic trong đường ruột của lợn có thể sản sinh các enzyme như amylase, lipase, phytase và protease. Các tác giả đã chọn lọc được chủng Lactobacillus sp. PSC101 có khả năng sinh tất cả các loại enzyme kể trên và kháng được cả muối mật và axit mật. Một số trực khuẩn sinh bào tử như Bacillus amyloliquefaciens có thể sinh các enzyme ngoại bào như α-amylase, cellulase, protease và metalloprotease (Bajagai và cs., 2016). Sự tăng cường hoạt động của các enzyme này trong đường ruột của vật nuôi được bổ sung probiotics là nguyên nhân chính làm tăng khả năng tiêu hóa hấp thu ở lợn. Bên cạnh đó, các sản phẩm trao đổi chất được hình thành trong quá trình lên men của các VSVprobiotic trong đường ruột như các axit hữu cơ, axit béo bay hơi … đã làm tăng khả năng tiết dịch nhầy, cải thiện sự phát triển của lớp lông nhung niêm mạc ruột của lợn từ đó cải thiện quá trình tiêu hóa hấp thu. Klingspor và cs. (2013) đã cho biết, bổ sung probiotic đơn chủng Entetococcus faecium NCIMB 10415 trong thức ăn cho lợn với liều 4 x 106/g giúp tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu thức ăn do E. faecium có khẳ năng làm tăng hấp thu và tăng tiết dịch nhầy của niêm mạc ruột non.
Huang và cs. (2004) phát hiện thấy khả năng tiêu hóa protein thô và phosphor của ngô và bột đậu tương trong khẩu phần ăn của lợn con cai sữa đã tăng khi bổ sung 0,1% hỗn hợp các chủng lactobacilli với mật độ 2,4x105cfu/g. Meng và cs. (2010) cũng có kết luận tương tự, khả năng tiêu hóa protein của lợn tăng lên rõ rệt khi bổ sung hỗn hợp các chủng gồm B.subtilis và Clostridium butyricum trong khẩu phần ăn của lợn thịt so với đối chứng. Giang và cs. (2010) đã báo cáo kết quả tăng khả năng tiêu hóa xơ thô và protein thô ở hồi tràng của lợn sau khi bổ sung probiotic đa chủng gồm B. subtilis H4, S.boulardii Sb,E. faecium 6H2, L. acidophilus C3, P. pentosaceus D7,và L. fermentum NC1 vào khẩu phần ăn của lợn con trong 2 tuần đầu tiên sau cai sữa.
So với đối tượng lợn con và lợn nuôi thịt, các nghiên cứu về ảnh hưởng của probiotic đến năng suất sinh sản của lợn nái vẫn còn hạn chế. Ahasan và cs. (2015) đã cho biết sử dụng chế phẩm probiotics đa chủng gồm Bacillus spp., Lactobacillus spp., và Streptococcus spp. có thể cải thiện số lượng và chất lượng sữa mẹ từ đó cải thiện các chỉ tiêu như số con/ổ, tỷ lệ sống và khối lượng lợn con.
Alexopoulos và cs. (2004) báo cáo kết quả bổ sung chế phẩm BioPlus 2B gồm Bacilluslicheniformis và Bacillus subtilis cho lợn nái mang thai từ 2 tuần trước khi đẻ và trong suốt giai đoạn nuôi con đã cải thiện năng suất sinh sản của lợn nái với việc giảm tỷ lệ chết do tiêu chảy, giảm tỷ lệ chết trước cai sữa của lợn con và tăng khối lượng lợn con cai sữa do khả năng tiết sữa, chất lượng sữa của lợn mẹ được cải thiện. Các tác giả cũng cho biết bổ sung chế phẩm này còn giúp giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ trong giai đoạn nuôi con.
Giúp tăng sức đề kháng, tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch chống lại các vi khuẩn gây bệnh:
Các VSVcó hoạt tính probiotic giúp làm tăng cường sự di chuyển và hoạt động của đại thực bào trong máu và các mô; Tăng cường sự sản sinh một số loại kháng thể giúp tiêu diệt VSVgây hại.
Probiotic trong việc làm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa
Tiêu chảy ở lợn con thường gặp ở tuần đầu tiên sau cai sữa. Vì vậy probiotic được sử dụng phổ biến ở giai đoạn này nhằm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy sau cai sữa ở lợn con và cũng như giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
Kết quả nghiên cứu của Bhandari và cs. (2010) cho biết, vi khuẩn probiotic E.coli sản sinh colicin có khả năng ngăn cản sự bám dính của ETEC K88 vào niêm mạc ruột và lợn con không bị tiêu chảy. Theo Chen và cs. (2016), tỷ lệ mắc tiêu chảy của lợn con cai sữa được gây nhiễm với ETECT đã giảm đáng kể sau khi được bổ sung chủng vi khuẩn Enterococcus faecalis dạng bọc (CG 1.0007) trong khẩu phần. Lv và cs. (2015) cũng báo cáo kết quả tương tự, tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con cai sữa thấp hơn rõ rệt ở lô thí nghiệm có bổ sung chế phẩm probiotic (Lactobacillus acidophilus và Saccharomyces cerevisiae) và selen so với lô đối chứng.
Một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột có sản sinh độc tố đường ruột (enterotoxins) – là yếu tố độc lực và là nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc như :
E.coliserotype O157:H7, Salmonellaenteritidis, S. typhimurium, Clostridium difficile…Một số độc tố đường ruột có thể bị trung hòa bởi một số sản phẩm trao đổi chất của các vi sinh vật probiotics (Yirga, 2015). Kết quả nghiên cứu in vivo của Carey và cs. (2008) đã chứng minh rằng một lượng lớn axit lactic được sản sinh ra bởi 15 chủng vi khuẩn latobacillii khác nhau đã ức chế độc tố đường ruột shiga-toxin 2A được sản sinh ra bởi chủng E. coli O157:H7. Bên cạnh đó, một số probiotics có thể ức chế quá trình tổng hợp amine ở vi khuẩn gây bệnh. Các vi khuẩn coliform trong đường ruột có khả năng khử carboxyl các axit amin để hình thành các amine, đó là những chất độc hại, gây kích ứng niêm mạc ruột và có liên quan với tỷ lệ mắc tiêu chảy.

Men vi sinh trong chăn nuôi

Lợi ích của Probiotic trong chăn nuôi Trong những năm gần đây, men vi sinh (probiotic) đã trở nên phổ biến hơn trong lĩn...
22/08/2025

Lợi ích của Probiotic trong chăn nuôi

Trong những năm gần đây, men vi sinh (probiotic) đã trở nên phổ biến hơn trong lĩnh vực thực phẩm bổ sung và phụ gia thức ăn chăn nuôi gia cầm, đóng vai trò thay thế kháng sinh. Trên hết, men vi sinh là phụ gia thức ăn phổ biến, có thể được sử dụng kết hợp với các chất phụ gia khác để cải thiện hiệu suất và sức khỏe. Tác dụng tích cực của chúng có thể được quan sát trực tiếp trong đường tiêu hóa và gián tiếp trong việc điều hòa miễn dịch của hệ thống miễn dịch gia cầm. Các hiệu ứng dinh dưỡng được thấy ở đàn gia cầm được bổ sung men vi sinh bao gồm tăng tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng, tăng lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày và cải thiện tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR). Chất lượng thịt cũng được cải thiện. Điều này cho thấy người chăn nuôi có thể cải thiện kết quả sản xuất thông qua việc sử dụng men vi sinh. Bên cạnh những hiệu quả về sản xuất này, khả năng miễn dịch của gia cầm cũng được cải thiện bằng cách cho phép cơ thể tự bảo vệ tốt hơn trước các tác nhân gây bệnh và căng thẳng. Việc thiếu chính xác trong công thức của các chế phẩm không phải của châu Âu cần được phát triển thêm do những tương tác chưa được biết đến giữa các chủng vi khuẩn men vi sinh cũng như các chất chuyển hóa của chúng. Tính linh hoạt của men vi sinh và việc vi khuẩn được sử dụng trong sản xuất men vi sinh là một phần không thể thiếu của đường tiêu hóa động vật khiến chúng trở thành một chất phụ gia thức ăn an toàn.
• Cải thiện tiêu hóa và hấp thu:
Probiotic sản sinh enzyme tiêu hóa, giúp vật nuôi ăn ngon miệng hơn, chuyển hóa thức ăn hiệu quả và tăng khả năng hấp thu protein, xơ thô.
• Tăng trưởng nhanh và giảm FCR:
Nhờ tiêu hóa tốt, vật nuôi tăng trọng nhanh và đạt hiệu quả chuyển đổi thức ăn (FCR) tốt hơn, giảm thiểu lãng phí thức ăn.
• Nâng cao sức đề kháng:
Probiotic giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột, tăng cường sản xuất kháng thể và chất miễn dịch, từ đó nâng cao sức khỏe và khả năng chống lại bệnh tật.
• Phòng bệnh và giảm kháng sinh:
Chúng cạnh tranh, ức chế vi khuẩn gây bệnh như E. coli, Salmonella, Clostridium, giúp phòng ngừa bệnh đường ruột, đặc biệt ở vật nuôi non. Việc này giúp người chăn nuôi giảm sự phụ thuộc và lạm dụng kháng sinh.
• Cải thiện môi trường chuồng trại:
Probiotic giúp phân hủy chất hữu cơ trong phân, giảm mùi hôi và các khí độc hại như NH3, NO2, H2S, tạo môi trường sống sạch sẽ và lành mạnh hơn cho vật nuôi.
Khi nào nên sử dụng Probiotic:
• Giai đoạn đầu đời:
Nên cho vật nuôi sử dụng Probiotic từ nhỏ để hình thành hệ miễn dịch tự nhiên và hệ tiêu hóa khỏe mạnh.
• Giai đoạn chuyển tiếp:
Hỗ trợ hệ tiêu hóa khi vật nuôi đổi thức ăn, tách sữa, cai sữa hoặc sau khi dùng kháng sinh để phục hồi hệ vi sinh đường ruột.
• Phòng bệnh định kỳ:
Sử dụng định kỳ để duy trì sự ổn định của hệ vi sinh vật đường ruột và ngăn ngừa bệnh tật.

Men vi sinh trong chăn nuôi

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Men vi sinh trong chăn nuôi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share